Nguyền mong thân cận minh sư, quả Bồ Đề một đêm mà chín. Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa Ưu Đàm mấy kiếp đâm bông.
Rss Feed

Thiền Sư Thần Hội - Hiển Tông Ký (dịch và giảng 1993)

Đăng lúc: Chủ nhật - 04/12/2011 09:05 - Người đăng bài viết: Tịnh Cường
Thiền Sư Thần Hội - Hiển Tông Ký (dịch và giảng 1993)

Thiền Sư Thần Hội - Hiển Tông Ký (dịch và giảng 1993)

Hiển Tông Ký, Hiển là hiển bày, Tông là Thiền tông, Ký là ghi. Hiển Tông Ký là ghi lại những lời dạy về Thiền tông của Thiền sư Thần Hội. Còn “Đốn ngộ vô sanh Bát-nhã tụng” là bài tụng về phương pháp tu đốn ngộ để được trí Bát-nhã vô sanh. Hai tên tuy khác nhưng mục tiêu không khác. Bài tụng này có cả chữ Hán lẫn chữ Việt. Chữ Hán lúc trước tôi đã giảng rồi, lần này tôi giảng chữ Việt.
Hiển Tông Ký là tác phẩm của Thiền sư Thần Hội. Trong Tạng kinh ghi là Hiển Tông Ký, nhưng trong Ngữ lục ghi là “Đốn ngộ vô sanh Bát-nhã tụng”. Tôi sẽ giải thích lần lượt cả hai tên trên.
 Hiển Tông Ký, Hiển là hiển bày, Tông là Thiền tông, Ký là ghi. Hiển Tông Ký là ghi lại những lời dạy về Thiền tông của Thiền sư Thần Hội. Còn “Đốn ngộ vô sanh Bát-nhã tụng” là bài tụng về phương pháp tu đốn ngộ để được trí Bát-nhã vô sanh. Hai tên tuy khác nhưng mục tiêu không khác. Bài tụng này có cả chữ Hán lẫn chữ Việt. Chữ Hán lúc trước tôi đã giảng rồi, lần này tôi giảng chữ Việt.
CHÁNH VĂN:
Hiển  Tông  Ký
Vô niệm làm tông, vô tác làm bản. Chân không làm thể, diệu hữu làm dụng.
GIẢNG:
Bốn câu này rất cô đọng. Nói vô niệm làm tông, tông là chủ của Thiền. Vô tác làm bản tức là gốc. Chân không làm thể, diệu hữu làm dụng. Lục tổ Huệ Năng nói: “Vô niệm vi tông, vô tướng vi thể, vô trụ vi bản.” Ngài Thần Hội nói vô niệm làm tông, vô tác làm bản, chân không làm thể, diệu hữu làm dụng, như vậy có sai lệch với chủ trương của Lục Tổ không?
Người tu thiền muốn đạt được Chân như bất động thì phải tới vô niệm. Vô niệm là không còn dấy một niệm nào đuổi theo sáu trần. Đó là gốc để trở lại Chân như hay sống với Chân như của mình.
Lục Tổ nói vô tướng vi thể, nhưng ở đây đổi lại chân không làm thể. Bởi chân không cũng không tướng, lấy không tướng làm thể. Vì ngài Thần Hội muốn nói thể và dụng, nên đổi cái thứ hai trở thành cái thứ ba.
Vô tác, Lục Tổ gọi là vô trụ. Bởi chúng ta vừa dấy niệm chạy theo sáu trần, đó là tạo tác. Dấy niệm tạo tác thì dính mắc, nên gọi là trụ hay tác. Giờ đây chúng ta không để tâm đuổi theo sáu trần, không dính mắc nữa tức là vô tác hay vô trụ. Đây là gốc của sự tu.
Trên chủ thể của sự tu thì vô niệm, còn trên công phu tu là vô trụ hay vô tác. Chân không làm thể, tức là khi đạt đến chỗ vô niệm rồi, chỗ đó không còn tướng mạo, không còn hình thức nên gọi là chân không. Lấy cái không tướng mạo, không hình thức đó làm thể. Thể là Chân thể của chính mình. Nghe nói chân không làm thể, người ta lại buồn, như vậy tu đến cuối cùng không ngơ, tu làm chi cho khổ sở. Cho nên Ngài nói diệu hữu làm dụng. Tuy thể là chân không nhưng dụng là diệu hữu, chớ không phải không ngơ. Không tất cả những nhiễm ô trần tục nhưng có diệu dụng phi thường, không thể nghĩ lường được.
Bốn câu này nói lên tông chỉ Thiền tông, là phải tu đến chỗ cứu kính vô niệm. Muốn được vô niệm chúng ta phải vô trụ hoặc vô tác. Vô trụ, vô tác rồi mới được chân không. Khi được chân không rồi mới có diệu dụng, tức là diệu hữu. Đó là gốc của sự tu hành.
CHÁNH VĂN:
Phàm Chân như là vô niệm, chẳng phải tưởng niệm hay biết. Thật tướng là vô sanh, đâu do sắc tâm hay thấy.
GIẢNG:
Ở đây giải thích vô niệm là Chân như. Mà đã vô niệm thì chẳng phải tưởng niệm hay biết. Nhiều người thắc mắc làm sao biết được Chân như? Chỗ đó là vô niệm, vô tưởng, muốn biết thì phải khởi nghĩ tưởng. Mà nghĩ tưởng có biết được Chân như không? Vì thế ở đây nói rõ, phàm Chân như là vô niệm, chẳng phải tưởng niệm mà hay biết được Chân như.
Thật tướng các pháp là vô sanh, đã là vô sanh thì đâu do sắc hay tâm mà thấy được. Như vậy Thể vô sanh và Chân như, hai cái đó không thể dùng nghĩ tưởng, tâm sắc để biết, để thấy, để đo lường được nó.
CHÁNH VĂN:
Người niệm vô niệm tức niệm Chân như. Người sanh vô sanh, tức sanh Thật tướng.
GIẢNG:
Người niệm vô niệm tức niệm Chân như.
Niệm vô niệm là sao? Có niệm tức là hữu niệm, sao là người niệm vô niệm? Chữ niệm này là chỉ người luôn hướng tâm về vô niệm, tức là niệm Chân như. Muốn được Chân như thì phải đem hết tâm hướng về chỗ vô niệm. Vừa dấy niệm lên thì không phải là vô niệm, không có vô niệm tức không có Chân như.
Người sanh vô sanh, tức sanh Thật tướng.
Làm sao sanh cái vô sanh được? Chữ sanh này là an trú. Người an trú chỗ vô sanh tức là sanh ra Thật tướng. Như vậy người luôn hướng về vô niệm tức là niệm Chân như. Người an trú chỗ vô sanh tức là sanh Tướng chân thật. Hai câu này chỉ cho chúng ta biết tu muốn được Chân như, Thật tướng thì phải như vậy.
CHÁNH VĂN:
Vô trụ mà trụ, thường trụ Niết-bàn. Vô hành mà hành, tức vượt bờ kia.
GIẢNG:
Vô trụ mà trụ là sao? Là trụ chỗ vô trụ. Trụ chỗ vô trụ là an trụ chỗ không dính mắc, thường trụ Niết-bàn. Chúng ta sống ngay chỗ không dính mắc đó gọi là trụ, vô trụ mà trụ. Được như vậy là thường trụ Niết-bàn. Còn dấy niệm dính mắc là rời xa Niết-bàn. 
Hành mà vô hành tức làm tất cả, hoạt động tất cả mà không chút gì vướng mắc trong việc làm của mình. Được vậy là vượt qua bờ kia, từ biển mê lên bờ giác là vô hành mà hành. Tại sao vô hành mà hành? Tất cả những việc làm của chúng ta gọi là hành, thế gian gọi là hành động. Hành động của mình cũng cho là thật, như cuốc đất thật, trồng khoai thật, làm gì là thật nấy. Nhưng người thâm nhập được Trí tuệ Bát-nhã rồi, họ làm tất cả mà không vướng mắc cái gì hết. Không thấy một pháp thật thì làm gì vướng mắc. Cho nên vô hành mà hành, làm tất cả mà không thấy mình làm. Đó là người được lên bờ giác ngộ.
CHÁNH VĂN:
Như như chẳng động, động dụng không cùng. Niệm niệm không cầu, cầu vốn vô niệm.
GIẢNG:
Chỗ như như là không dấy động, mà động dụng không cùng. Tại sao? Bởi vì chỗ chân thật cứu kính đó là thường hằng, bất động, nhưng tùy duyên tùy cảnh mà làm lợi ích cho mọi người. Vì vậy nên nói động dụng không cùng.
Niệm niệm không cầu, niệm niệm cũng có nghĩa là luôn luôn. Ta không mong cầu gì hết, mà nếu có mong cầu là cầu tiến thẳng về chỗ vô niệm. Như vậy chúng ta luôn luôn không cầu mong mọi thứ bên ngoài, chỉ hướng thẳng về chỗ vô niệm. Cho nên nói cầu vốn vô niệm.
CHÁNH VĂN:
Bồ-đề không được, sạch Ngũ nhãn mà rõ Tam thân. Bát-nhã không biết, vận Lục thông mà hoằng Tứ trí.
GIẢNG:
Những chỗ này ta thấy như mâu thuẫn vậy. Tại sao Bồ-đề không được? - Vì Bồ-đề là Tánh giác, mà Tánh giác thì không sanh, không diệt làm gì có được mất, nên nói không được. Tuy không được mà sạch Ngũ nhãn và rõ Tam thân. Không được mà được, như Bát-nhã thường nói “vô sở đắc cố”, nhưng rốt cuộc thì “đắc A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề”.
Ngũ nhãn là gì? Là nhục nhãn, thiên nhãn, tuệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn. Đứng về mặt Bồ-đề, tức giác ngộ tuy không có hình tướng, nhưng đầy đủ Ngũ nhãn. Rõ ràng được Tam thân là Pháp thân, Báo thân, Hóa thân. Trên đường tu khi được giác ngộ rồi là trở về chỗ vô niệm, thì tự nhiên không có gì để được. Song chính nhờ giác ngộ mà Phật mới có đầy đủ Ngũ nhãn, Lục thông, thấy rõ Tam thân, Tứ trí.
Bát-nhã thì vô tri, ta thường nghe nói “Bát-nhã vô tri, vô sở bất tri”. Bát-nhã là không biết nhưng không cái gì chẳng biết. Tại sao? Bát-nhã dịch là trí tuệ, nhưng lâu nay chỉ nói Trí tuệ Bát-nhã, chớ không dám dịch là trí tuệ. Vì chữ Bát-nhã đúng nghĩa là trí tuệ, nhưng trí tuệ thế gian khác với Trí tuệ Bát-nhã. Trí tuệ thế gian là thông minh, học giỏi, làm việc gì cũng khéo léo, nghiên cứu mọi vấn đề khoa học xã hội thông suốt. Còn Trí tuệ Bát-nhã đi sâu thấu triệt nguồn cội của tất cả các pháp, chớ không phải trên hình thức phân biệt chia chẻ các pháp. Vì vậy Bát-nhã không phải là trí tuệ thế gian, mà là trí tuệ của người đạt đạo.
Bát-nhã không biết, vận Lục thông mà hoằng Tứ trí. Bát-nhã thì vô tri bởi vì nó không có phân biệt, không có dấy khởi nhưng lại có công dụng đầy đủ Lục thông và mở rộng Tứ trí. Ở đây nói Bồ-đề luôn luôn không có sở đắc, Bát-nhã thì không có chỗ biết. Không có sở đắc mà đắc Ngũ nhãn, Tam thân; không chỗ biết mà biết được Lục thông, Tứ trí.
Lục thông là thiên nhãn, thiên nhĩ, tha tâm, thần túc, túc mạng và lậu tận. Tứ trí, trong Pháp Bảo Đàn Lục Tổ dạy tu chuyển Bát thức thành Tứ trí. Tức là chuyển Tàng thức thành Đại viên cảnh trí, Mạt-na thức thành Bình đẳng tánh trí, Ý thức thành Diệu quan sát trí, năm thức trước thành Thành sở tác trí. Tuy không được, không có sở đắc gì hết mà nó chuyển thức thành trí, chớ không phải tu tới đó rồi không biết gì hết, như khùng như điên.
Dạy tu pháp này rất khó, vượt qua mọi thứ tầm thường của thế gian. Thế gian luôn nói hai bên tốt xấu, hay dở. Nhưng ở đây nói thẳng thể tột cùng không còn đối đãi nữa. Qua hết đối đãi thì tâm mới được vô niệm.
Chúng ta sở dĩ nghĩ lăng xăng là vì hữu niệm đối đãi. Thấy thì đẹp xấu, nghe thì hiền lành dễ thương hoặc dễ ghét, suy nghĩ thì có buồn giận, ghét thương cho nên sáu căn bị sáu trần che phủ. Bây giờ chúng ta vượt qua được các đối đãi đó, không thấy đẹp xấu thì tâm không dính mắc. Tất cả mọi thứ đều không làm mình dấy động, không dấy động tức là không vướng mắc, không vướng mắc tức là vô niệm, vô niệm tức là sống với Chân như.
Chúng ta tu là đi ra ngoài tầm tri giác hay hiểu biết của thế tục. Vì vậy nói đạo Phật là đạo giải thoát, siêu xuất thế gian. Hiện giờ chúng ta tu mà không có kết quả là vì chưa có Bồ-đề, chưa có Bát-nhã. Tất cả pháp là Tánh không mà có là vì duyên hợp. Duyên hợp nên các pháp tạm có, có trong hư giả tạm bợ, chớ không thật. Người không biết các pháp Tánh không nên thấy các pháp thật. Vì vậy chìm kẹt trong giả tướng mà không biết. Cho nên khen chê thật, phiền não thật, rồi đủ thứ lôi kéo trôi lăn trong sanh tử.
Vì vậy Trí tuệ Bát-nhã là trí tuệ thấu suốt được bản chất của muôn pháp. Thấy được lẽ thật nơi con người thì thấy được lẽ thật của các pháp. Không thấy được lẽ thật nơi mình thì các pháp cũng không thấy luôn. Vì vậy chúng ta không có Lục thông, Tứ trí, Ngũ nhãn, Tam thân.
CHÁNH VĂN:
Thế biết tức định không định, tức tuệ không tuệ, tức hành không hành.
GIẢNG:
Như vậy biết rằng tức định mà không định, tức tuệ mà không tuệ, tức hành mà không hành. Tại sao? Vì ngay khi định không kềm, không giữ thì định mà không định. Chúng ta tu lúc ban sơ muốn tâm định thường hay kềm, phải giữ nó mới yên. Khi biết tất cả các pháp như huyễn, không cần phải định gì hết mà tâm vẫn định. Nó như huyễn như hóa thì có gì bận lòng. Tâm tự định, nên không có sự kềm chế.
Tức tuệ mà không tuệ, người sống thấy đúng chân lý, đạt được chỗ cứu kính của chân lý, khác với người thế tục. Như chúng ta thấy con người, thú vật, cây cối đều biết duyên hợp hư giả. Nếu ai nói cây tùng đẹp quá, còn mình nói hư giả, hoặc họ nói cái nhà đẹp quá, mình cũng nói hư giả, người đó sẽ cho ta là kẻ ngu si hay trí tuệ? Họ bảo anh đó ngu quá, không phân biệt được gì hết. Như vậy cái biết tột của mình lại bị người ta chê ngu. Nên nói tức tuệ mà không tuệ, vì người ta cho ngu quá làm sao tuệ được, nhưng chính cái tuệ đó là tuệ thật mà họ không biết.
Tức hành mà không hành, ta làm tất cả mà không vuớng mắc gì hết. Người thế gian làm phải tính toán kết quả được hưởng thế nào. Còn người đạt đạo làm tất cả mà không quan tâm ngày mai được hưởng hay không được hưởng, đó là hành mà không hành. Bởi vậy Bồ-tát làm tất cả mà không vướng mắc cái gì, còn chúng ta làm tới đâu thì dính tới đó.
CHÁNH VĂN:
Tánh đồng hư không, thể đồng pháp giới.
GIẢNG:
Thấy rõ tánh của các pháp là không, tánh đó đồng với hư không. Thể đồng pháp giới là Thể tướng hay Bản thể của nó trùm cả pháp giới. Bởi nó không có hình thức, không có dấy động thì làm gì có nơi chốn, làm gì có một phạm vi nhất định. Cho nên nói “Tánh thể đồng hư không, đồng pháp giới”.
CHÁNH VĂN:
Lục độ từ đây tròn đầy. Đạo phẩm nơi này không thiếu.
GIẢNG:
Người nào nhận và sống được với tánh đồng hư không, thể đồng pháp giới rồi thì sẽ đầy đủ Lục độ, Bát chánh đạo, không thiếu lúc nào hết. Mới thấy chúng ta tu dường như mất tất cả, mà lại là được tất cả.
Thế gian muốn được tất cả, ngược lại mất tất cả. Tất cả những gì ta được đây, một ngày nào vừa tắt thở nhắm mắt thì của ai, chớ không còn là của mình nữa. Như vậy những gì được của mình hiện giờ sẽ là mất tất cả. Còn người tu hành đạt được Trí tuệ Bát-nhã, sống được Thể tánh chân như thì đầy đủ hết, hằng sa diệu dụng từ đó mà phát khởi. Như vậy mất tất cả mà được tất cả.
Chúng ta chọn cái nào? Được tất cả để mất tất cả hay mất tất cả để được tất cả? Ta đã chọn rồi, bỏ cha bỏ mẹ là mất, bỏ nhà bỏ cửa là mất, bỏ gia sản sự nghiệp là mất, bỏ thân bằng quyến thuộc là mất. Mất nhưng chưa tất cả, mất những thứ bên ngoài nhưng bên trong chưa mất. Mất phân nửa thôi nên chưa được gì hết. Phải mất tất cả mới được tất cả, còn giữ một chút là còn chưa được.
Nếu chúng ta dám buông tất cả, bỏ tất cả thì sẽ được tất cả. Ngược lại, nếu ta không dám buông, thì sẽ mất chớ không được gì cả. Khi buông được các tâm niệm phân biệt, hơn thua, phải quấy, tốt xấu, đó là ta trở về với Chân như hay với vô niệm. Thể chân như, vô niệm đó đồng với pháp giới, nên Lục độ tròn đầy, đạo phẩm không thiếu.
CHÁNH VĂN:
Thế biết ngã pháp thể không, có không hai mất. Tâm vốn vô tác, đạo thường vô niệm.
GIẢNG:
Như vậy mới biết ngã và pháp, thể nó là không. Có, không cả hai mất hết, được vậy thì tâm vốn là vô tác, vô tác là vô trụ. Tâm vô trụ, đạo thường vô niệm tức Thể của tâm gọi đó là Đạo.
Hiện giờ chúng ta đối với ngã, pháp thấy thể là không hay là có? Ngã là ta, pháp là sự vật, hai thứ này chúng ta chưa thấy thể là không. Chớ nếu thấm sâu, thấu triệt được ngã, pháp thể là không, thì có không ngay đó mất hết. Được vậy tâm mới không trụ. Sở dĩ ngày nay chúng ta dính kẹt với các pháp, dính kẹt với bản ngã là vì thấy ngã thật, pháp thật nên tâm hữu trụ, hữu tác. Khi thấy ngã pháp đều không thì tâm không còn trụ, không còn tác nữa. Khi tâm không trụ, không tác là vô niệm. Vô niệm tức là Chân như.
CHÁNH VĂN:
Không niệm không nghĩ, không cầu không được. Chẳng kia chẳng đây, chẳng đi chẳng lại.
GIẢNG:
Không dấy niệm, không khởi nghĩ, không mong cầu, không phân biệt đây kia, chẳng thấy đi lại, chừng đó thế nào?
CHÁNH VĂN:
Thể ngộ Tam minh, tâm thông Bát giải. Công thành Thập lực, giàu có Thất trân.
GIẢNG:
Muốn đủ Tam minh, Bát giải, Thập lực, Thất trân, trước chúng ta phải làm gì? - Không nghĩ, không niệm. Vừa có dấy niệm liền buông, không khởi nghĩ chuyện hơn thua, phải quấy, không mong cầu, không trông được, không phân biệt kia đây, không thấy đi thấy đến. Được như vậy thì thể ngộ Tam minh, tâm thông Bát giải.
Ngộ Tam minh là gì? Tam minh là Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh. Phật do ngộ Tam minh mà thành Phật. Tâm thông Bát giải là Bát giải thoát. Công thành Thập lực, giàu có Thất trân. Như vậy giá trị của sự tu hành chúng ta thấy rõ, không phải là chuyện vô ích.
Thập lực là:
1.   Tri thị xứ phi xứ trí lực, tức trí lực biết nơi phải nơi không phải.
2.   Tri tam thế nghiệp trí lực, tức trí lực biết thấu được nghiệp ba đời.
3.   Tri chư thiền giải thoát tam-muội trí lực, tức trí lực biết rõ được thiền sự giải thoát tam-muội, tức là chánh định.
4.   Tri chúng sanh thượng hạ căn trí lực, tức trí lực biết được chúng sanh thuộc các hạng thượng, trung, hạ căn; biết rõ không nghi.
5.   Tri chứng chủng chủng giải trí lực, tức trí lực biết mình chứng tới thứ gì, thứ gì.
6.   Tri chủng chủng giới trí lực, tức trí lực biết hết các thứ, các loài.
7.   Tri nhất thiết chí xứ đạo trí lực, tức trí lực biết tất cả chỗ đến của người tu.
8.   Tri túc mạng vô lậu trí lực, tức trí lực biết được túc mạng vô lậu.
9.   Tri thiền thiên nhãn vô ngại trí lực, tức trí lực được thiên nhãn.
10. Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực, tức trí lực biết được tập khí để dứt hết, không còn chút nào cả. Đây là trí lực khó nhất.
Bát giải thoát còn gọi là Bát giải thoát tam-muội, tức tám pháp Thiền định giải thoát:
1.  Nội hữu sắc tướng, ngoại quán sắc giải thoát tam-muội, nghĩa là pháp Thiền định giải thoát, bên trong tự có sắc tướng, quán tưởng cõi sắc ở bên ngoài, lướt tới cảnh Sơ thiền.
2.  Nội vô sắc tướng, ngoại quán sắc giải thoát tam-muội, nghĩa là pháp Thiền định giải thoát, bên trong chẳng có sắc tướng, quán tưởng cõi sắc ở bên ngoài, lướt tới cảnh Nhị thiền.
3.  Tịnh giải thoát thân chứng tam-muội, nghĩa là pháp Thiền định giải thoát chứng tới cõi Tịnh lạc, lướt tới Tam thiền thiên, Tứ thiền và Tịnh phạm địa.
4.  Không xứ giải thoát tam-muội, nghĩa là pháp Thiền định giải thoát chứng cảnh giới Không vô biên xứ.
5.  Thức xứ giải thoát tam-muội, nghĩa là pháp Thiền định giải thoát chứng tới cảnh giới Thức vô biên xứ.
6.  Vô sở hữu xứ giải thoát tam-muội, nghĩa là pháp Thiền định giải thoát chứng tới cảnh giới Vô sở hữu xứ.
7.  Phi hữu tưởng, phi vô tưởng xứ giải thoát tam-muội, nghĩa là pháp Thiền định giải thoát chứng tới cảnh giới Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
8.  Diệt tận định xứ giải thoát tam-muội, nghĩa là pháp Thiền định giải thoát chứng được cảnh giới tịch diệt, còn gọi là Niết-bàn, Lậu tận A-la-hán.
Đến Thất trân còn gọi là Thất bảo. Trong kinh Pháp Bảo Đàn, Lục Tổ dạy: Thất bảo ở cõi Cực lạc là bảy món của báu của người tu hành:
1.  Kim ứng với Giới.
2.  Ngân ứng với Tín.
3.  Lưu-ly ứng với Văn.
4.  Pha lê ứng với Tàm.
5.  Xà-cừ ứng với Tấn.
6.  Xích châu ứng với Tuệ.
7.  Mã não ứng với Xả.
Như vậy để thấy rằng chúng ta tu được đến chỗ chân thật thì mọi công năng, diệu dụng theo đó mà hiển bày, chớ không mong cầu mà được. Chỉ dẹp hết những niệm nghĩ, phân biệt kia đây v.v… là đủ. Nhìn kỹ lại có phải chúng ta ngu khờ bỏ tất cả của cải thế gian để đi tới chỗ vô nghĩa, vô lý không? Bởi vì tất cả của cải thế gian có hưởng được cũng chỉ tạm bợ, không trường tồn. Còn chỗ tột cùng siêu thoát, ta đến đó được thì mọi thứ đều an lành.
CHÁNH VĂN:
Vào môn bất nhị, được lý Nhất thừa.
GIẢNG:
Chúng ta bước vào cửa bất nhị là cửa không hai, không còn mắc kẹt hai bên nữa. Được lý Nhất thừa tức là không còn hai bên. Chúng ta tu muốn đạt được chỗ cứu kính chân thật phải bước vào cửa bất nhị. Nên phần nhiều các cổng chùa thường để “bất nhị môn”. Làm sao ở nội tâm cũng như sáu căn của chúng ta, lúc nào cũng không vướng phải hai bên, tất cả đối đãi buông sạch, đó là vào cửa bất nhị. Vào được cửa bất nhị là được lý Nhất thừa.
CHÁNH VĂN:
Diệu trong cái diệu, tức diệu pháp thân. Trời ở trong trời, là tuệ Kim cang.
GIẢNG:
Nếu được trong cái nhiệm mầu của Pháp thân, là vi diệu nhất. Trời ở trong trời, là tuệ Kim cang. Hồi xưa cho trời là trên hết, mà ở trong cái trên hết đó nữa, đó là trí tuệ Kim cang.
Khi tới được cửa bất nhị, đạt được lý Nhất thừa, là diệu trong cái diệu, tức là sống được với Pháp thân, có đầy đủ trí tuệ Kim cang.
CHÁNH VĂN:
Lặng lẽ thường lặng, ứng dụng không cùng. Dụng mà thường không, không mà thường dụng.
GIẢNG:
Khi tâm lặng lẽ thì ứng dụng không cùng. Dụng mà thường không, nghĩa là làm tất cả mà không vướng, không mắc, nên không thấy có làm. Nên nói dụng mà thường không, không mà thường dụng. Tuy thấy như không mà làm tất cả. Chúng ta thấy chư Bồ-tát độ chúng sanh không biết mệt mỏi, vì làm tất cả mà không thấy mình làm, không nghĩ người thọ mang ơn hay không mang ơn, do đó làm hoài không chán. Còn chúng ta làm mà còn đặt kia đây thì việc làm còn giới hạn.
CHÁNH VĂN:
Dụng mà chẳng có, tức là chân không. Không mà chẳng không, liền thành diệu hữu.
GIẢNG:
Chân không là gì? Làm tất cả mà không vướng mắc, không dính kẹt, đó là chân không. Chúng ta ở trong chúng, làm một công tác gì thường nghĩ công tác này nặng hơn công tác kia. Như vậy nên chán, không thích, nhiều khi cự nự với Tri sự nữa, tại sao bắt tôi làm việc nặng hơn người kia v.v… Chúng ta có dụng chớ không phải không dụng, nhưng quen dụng trong cái phân biệt hơn thua, phải quấy. Còn người dụng trong cái chẳng có, làm tất cả việc mà không thấy mình làm nên vui tươi. Dù làm việc nặng, việc khó, cũng đều không thấy nặng khó, nên làm được tất cả một cách dễ dàng. Đó là dụng mà chẳng có, tức là chân không.
Không mà chẳng không, cái chân không đó không mà chẳng phải không, liền thành diệu hữu. Chỗ này nếu chúng ta có tu chút chút, sẽ thấy rất rõ ràng. Như khi ngồi thiền là ta buông hết, bỏ hết. Buông hết, bỏ hết lẽ ra mình ngu lắm nhưng có vấn đề gì ta giải quyết rất sáng. Ví dụ người đi giảng đang ngồi thiền, tâm yên không nghĩ nhớ gì hết, bất thần nhớ mai mình giảng đề tài gì, tự nhiên đề tài sáng ra, lúc đó ngu hay là khôn? Thấy như khờ không biết gì hết, mà ứng dụng vô cùng.
Tôi bây giờ có tật làm biếng đọc sách, làm biếng soạn bài, nên mai giảng bữa nay chưa biết nói gì. Thôi mặc kệ. Khuya ngồi thiền, bất thần nhớ mai giảng, tự tâm nó soạn cho mình. Tuy hơi mất thời giờ tu hành, nhưng cái sáng ta thấy rõ. Trong yên tĩnh tâm rất sáng. Còn đọc sách này sách kia ghi ra đau cái đầu, tới chừng giảng mười phần còn có bảy, đôi khi chỉ được năm, chớ không đủ.
Như vậy thấy không mà chẳng không, liền thành diệu hữu. Tâm thanh tịnh có những nhiệm mầu mà mình không ngờ, không biết được. Đừng ngỡ rằng tu buông hết rồi khù khờ, không biết gì, chính chỗ đó mới hiện ra cái chân thật của mình.
CHÁNH VĂN:
Diệu hữu tức Ma-ha Bát-nhã. Chân không tức thanh tịnh Niết-bàn.
GIẢNG:
Diệu hữu tức là Trí tuệ Bát-nhã cứu kính. Chân không là Niết-bàn thanh tịnh. Lúc đang không dường như không có gì, nhưng mà có diệu hữu, tức có Trí tuệ Bát-nhã.
Chân không là chỗ thanh tịnh Niết-bàn. Chúng ta tu biết rõ khi tâm được lóng lặng, là để cho Trí tuệ Bát-nhã sáng lên, thấu triệt được các pháp. Trong lòng rỗng lặng, không có một niệm gì, lúc đó gọi là chân không. Cho nên chân không là thanh tịnh Niết-bàn ngay trong tâm mình, chớ không đâu xa hết.
CHÁNH VĂN:
Bát-nhã là nhân Niết-bàn. Niết-bàn là quả Bát-nhã.
GIẢNG:
Tại sao Bát-nhã là nhân Niết-bàn, Niết-bàn là quả Bát-nhã? Bây giờ chúng ta thử dùng Trí tuệ Bát-nhã nhìn người, nhìn vật, nhìn chung quanh, lúc đó tâm mình thế nào? Thấy tất cả đều hư dối tạm bợ nên tâm không dính, không nghĩ tưởng gì hết. Đó là nhân của Niết-bàn. Lục Tổ ngộ từ kinh Kim Cang, không trụ pháp gì hết. Do không trụ gì nên tâm yên tịnh, tâm yên tịnh mới nhận ra được xưa nay không một vật, đó là Niết-bàn. Từ Bát-nhã mà nhận ra được Niết-bàn. Cho nên Bát-nhã là nhân của Niết-bàn, Niết-bàn là quả của Bát-nhã.
Như vậy muốn được Niết-bàn phải biết dùng nhân Bát-nhã để tu. Cho nên tối nào Tăng Ni cũng tụng Bát-nhã, để tất cả nhớ mình có Trí tuệ Bát-nhã. Tu Phật mà không dùng Trí tuệ Bát-nhã thì làm sao được Niết-bàn.
CHÁNH VĂN:
Bát-nhã không thấy, mà hay thấy Niết-bàn. Niết-bàn không sanh, mà hay sanh Bát-nhã.
GIẢNG:
Bát-nhã không thấy, mà hay thấy Niết-bàn.
Tại sao vậy? Bát-nhã là không có niệm phân biệt hai bên, nên gọi là không thấy. Vì không có niệm phân biệt hai bên nên Niết-bàn hiện ra, do đó thấy Niết-bàn. Chỗ này quá ư là tuyệt vời, sâu sắc nếu chúng ta khéo thấy, khéo biết.
Thường chúng ta dùng trí thế gian phân biệt đây là hay, kia là dở, tức là có thấy. Bây giờ thấy các pháp Tự tánh là không, hiện tại có là giả tướng không thật, thành như không thấy gì hết, chính đó làm cho Niết-bàn hiện ra. Nên nói Bát-nhã không thấy mà hay thấy Niết-bàn.
Niết-bàn không sanh mà hay sanh Bát-nhã.
Niết-bàn tức là Tâm thanh tịnh lặng lẽ, nó có sanh gì đâu. Nhưng chính Tâm thanh tịnh lặng lẽ đó phát sáng nên thấy đúng như thật, đó là sanh Bát-nhã. Như vậy hai cái Bát-nhã và Niết-bàn hỗ tương nhau.
CHÁNH VĂN:
Niết-bàn Bát-nhã tên khác thể đồng. Tùy thể đặt tên, pháp không định tướng.
GIẢNG:
Có khi gọi Bát-nhã, có khi gọi Niết-bàn. Chúng ta phải hiểu kỹ Tánh không của các pháp, đó là cái nhìn của Bát-nhã. Từ thấy các pháp Tánh không nên tâm không dấy động, đó là được Tâm thanh tịnh. Tâm thanh tịnh là Niết-bàn. Như vậy thấy Tánh không và Tâm thanh tịnh không tách rời nhau. Cho nên người học Phật muốn thấu triệt nghĩa này phải thấy đúng nền tảng của nó.
Tánh không tức là các pháp Tánh không, duyên hợp giả có. Trong kinh Trung A-hàm có đoạn Phật nói về lý nhân duyên, trong đó có câu: “Thấy được lý nhân duyên là thấy pháp.” Hay chỗ khác nói: “Thấy được lý nhân duyên là thấy đạo hay thấy Phật.” Cho nên nhân duyên là nền tảng căn bản của Phật pháp. Người thấy được lý nhân duyên là thấy pháp, thấy đạo. Trí Bát-nhã đi từ nền tảng nhân duyên.
Như hỏi bình bông này tại sao có? Do nhân duyên có. Nhân duyên thế nào? Phân tích ra từng cọng, từng cọng, như vậy bình bông còn không? Bình bông nguyên không có chủ thể, chẳng qua nhiều duyên hợp lại mà có bình bông. Nói cách khác tất cả bông cắm trong bình mà chúng ta gọi là bình bông đều không có chủ thể. Vì không có chủ thể nên nói không có Tự tánh, tức tánh nó không có cố định, không có gì là chủ.
Nếu có một cái chủ thì mất cái đó không còn bình bông nữa. Nhưng nếu ta rút ra một bông, bình bông vẫn còn. Nếu bình bông không có Tự tánh, thì mình có Tự tánh không? Hỏi tới mình, tự nhiên ta thấy dội, vì cái ngã to quá nên mình không dám nhận là không có Tự tánh.
Với Trí tuệ Bát-nhã thấy tột cùng, thấu suốt tất cả pháp là không Tự tánh. Cho nên thân thì Phật gọi là vô ngã, còn các pháp thì không có Tự tánh. Tại sao nói các pháp không có Tự tánh? Y cứ lý nhân duyên nên thấy các pháp không Tự tánh. Do thấy các pháp không Tự tánh nên tâm không dính kẹt, đó là nhân của Niết-bàn.
Trong kinh Kim Cang, Phật dạy: “Nhất thiết hữu vi pháp, như mộng huyễn bào ảnh.” Nghe vậy ta thấy buồn. Các pháp thật rõ ràng, cơm ăn biết no, bánh ăn biết ngon, cái gì cũng thật hết mà Phật nói như mộng, như huyễn, như bọt, như bóng! Nhưng nếu vị nào sống tới bảy tám mươi tuổi thì thấy tất cả đều là mộng thôi. Phút giây nào thở ra cái khì thì tất cả những gì đã được đều là bóng, không còn nữa. Phật thấy tột cùng lý thật đó nên Ngài nói nhân duyên. Nhân duyên là tạm bợ, mà mình cho là thật thì trái với lý nhân duyên, tức là mê. Vì vậy chúng sanh cứ loanh quanh đời đời kiếp kiếp trong luân hồi sanh tử.
Phật thấy rõ không thật, bởi không thật nên Ngài không kẹt, không mắc ở nó. Vì vậy mà giải thoát sanh tử. Trọng tâm đạo Phật là giải thoát sanh tử, muốn giải thoát sanh tử thì thấy đúng như thật, đừng lầm lẫn. Đó là Trí tuệ Bát-nhã, còn lầm lẫn là trí tuệ thế gian.
Như vậy nền tảng của Bát-nhã là từ lý nhân duyên. Cho nên pháp Phật nói rất nhiều nhưng kỳ đặc nhất là lý nhân duyên. Ngày nay trong ngành nghề nào của khoa học cũng đều thấy lý nhân duyên. Tất cả đều do nhiều thứ hợp lại, nên có cái gì phá là nó tan hết. Hợp được thì tan được, rốt cuộc đều là tạm bợ, vậy mà con người cứ tưởng là thật, thành ra si mê điên đảo.
Con người si mê mà không biết mình si mê, tưởng là thông minh, trí tuệ. Bởi vậy ai nói si mê thì giận thôi là giận. Si mê mà không chấp nhận mình si mê, đó là đại si mê chớ không phải tiểu si mê. Si mê mà biết mình si mê, khả dĩ còn tha thứ được. Si mê mà không biết mình si mê thì thôi vô phương cứu. Đó là điều hết sức quan trọng. Học hiểu được những lời dạy này, chúng ta mới thấy đây là con đường đi thẳng. Vì vậy tác phẩm này còn có tên “Bát-nhã đốn ngộ” như trên đã nói.
Từ Bát-nhã mà thấy tột cùng thì dễ bước qua Chân như. Như chúng ta ngồi thiền buông vọng tưởng, mà vọng tưởng là gì? Nghĩ chuyện phải chuyện quấy, chuyện hơn chuyện thua, chuyện được chuyện mất, chuyện khôn chuyện dại của thế gian, đó là vọng tưởng. Trong tâm cứ nghĩ như thế hoài, làm sao bỏ nổi. Bỏ cái này trồi lên cái kia, liên tục như vậy. Bây giờ chỉ cần biết tất cả những thứ đó là trò ảo, không thật, bận lòng làm chi, tự nhiên tâm mình được yên.
Cho nên trước phải thấy đúng như thật thì sự tu mới có kết quả, không nghi ngờ. Còn không thấy đúng như thật thì tu rất cay đắng, mà không tiến nổi. Bởi còn thấy thật nên nhịn khó chịu quá, ráng nhịn chớ trong lòng bực bội, không vui tươi được. Cho nên biết rõ tất cả pháp không thật, ta cứ làm hết bổn phận còn chuyện được mất hơn thua, không có gì quan trọng hết. Sống là sống bằng trí tuệ chớ không phải sống bằng so đo phải quấy hơn thua. So đo phải quấy hơn thua là sống trong mê lầm.
Vì vậy trí tuệ là một sức mạnh phi thường để giúp chúng ta an định. Nếu thiếu trí tuệ chúng ta rất khó an định. Nên nói Bát-nhã là nhân của Niết-bàn, Niết-bàn là quả của Bát-nhã.
CHÁNH VĂN:
Niết-bàn hay sanh Bát-nhã, tức tên Pháp thân chân thật. Bát-nhã hay lập Niết-bàn, nên gọi Tri kiến Như Lai.
GIẢNG:
Niết-bàn hay sanh Bát-nhã, bởi vì tâm lặng lẽ thì trí sáng, cho nên Niết-bàn hay sanh Bát-nhã. Khi Niết-bàn sanh Bát-nhã đó là đạt được Pháp thân chân thật.
Bát-nhã hay lập Niết-bàn, nghĩa là từ Bát-nhã mà thành tựu được Niết-bàn. Nếu thành tựu được Niết-bàn gọi là Tri kiến Như Lai, tức cái thấy biết Phật. Vì thấy biết Phật là thấy biết đúng như thật, đúng chân lý. Vì vậy nói Bát-nhã hay lập Niết-bàn nên gọi là Tri kiến Phật.
CHÁNH VĂN:
Tri tức biết tâm không lặng. Kiến tức thấy tánh không sanh.
GIẢNG:
Sao gọi là Tri kiến Phật? Chữ Tri tức biết tâm không lặng. Khi ngồi thiền tâm lặng lẽ an tịnh, mình biết tâm lặng lẽ an tịnh. Như vậy là được cái tri của Như Lai. Kiến là thấy tánh không sanh, thấy các pháp Tự tánh là không sanh, duyên hợp giả có. Thấy như thế là thấy được lý Tự tánh không sanh, đó là cái thấy của Như Lai, nên nói Tri kiến Như Lai.
Tri kiến Phật chúng ta có không? Có mà tại không chịu nhận thôi.
CHÁNH VĂN:
Thấy biết rõ ràng, không một không khác. Động lặng thường diệu, sự lý đều như.
GIẢNG:
Thấy biết rõ ràng, nhưng không có một, không có khác tức là không có đối đãi, so sánh. Động lặng thường diệu, là khi động khi lặng cũng thường nhiệm mầu. Sự và lý đều như như, không có gì làm cho mình phiền lụy hết. Người tu đến đây mới thật là tự tại, giải thoát.
CHÁNH VĂN:
Như tức chốn chốn hay thông, đạt tức sự lý không ngại.
GIẢNG:
Như tức là chốn chốn hay thông.
Chữ Như là sao? Nghĩa là khi tâm được như như thì chỗ nào, nơi nào mình cũng thông suốt hết.
Đạt tức sự lý không ngại, nghĩa là thấu suốt thì sự lý không ngại. Không kẹt ở sự, hoặc không mắc ở lý, sự lý đều dung thông hết. Đó là như, là đạt.
CHÁNH VĂN:
Sáu căn không nhiễm là công định tuệ. Sáu thức chẳng sanh, là sức như như.
GIẢNG:
Sở dĩ sáu căn không dính, không nhiễm là do công phu định tuệ của chính mình. Nhờ định tuệ mà sáu căn không dính với sáu trần. Sáu thức không sanh là nhờ tâm được như như. Cái sức như như đó kềm chế khiến cho thức không sanh.
CHÁNH VĂN:
Tâm như cảnh lặng, cảnh mất tâm không. Tâm cảnh hai quên, thể dụng chẳng khác.
GIẢNG:
Khi tâm như rồi thì mọi cảnh bên ngoài đều lặng. Chỗ này nhiều người không hiểu, nói tâm như là ở trong yên, nhưng cảnh bên ngoài vẫn động, làm sao nói tâm như cảnh lặng được? Ở đây nói dù bên ngoài có xao xuyến ồn ào, mà tâm đã như rồi thì không có gì quan tâm, không có gì bận lòng, cho nên cảnh cũng tự lặng. Cảnh mất tâm không, nghĩa là cảnh lặng rồi thì tâm ta không còn gì để đuổi theo, để dính mắc.
Tâm cảnh hai quên, thể dụng chẳng khác.
Khi đó không còn kẹt ở tâm, không còn dính ở cảnh, cả hai đều buông thì thể dụng chẳng khác.
CHÁNH VĂN:
Chân như tánh sạch, gương tuệ không cùng.
GIẢNG:
Tâm chân như, Tự tánh lóng sạch, không còn một tí nhơ bợn. Gương trí tuệ của mình khi ấy cũng sáng suốt không cùng.
CHÁNH VĂN:
Như nước chia ngàn trăng, hay thấy biết rành rõ.
GIẢNG:
Dụ như nước chia ngàn trăng nhưng vẫn hay thấy biết rành rõ. Như đêm rằm trên bầu hư không có một mặt trăng trong sáng. Dưới đất có nhiều ao hồ, mỗi ao hồ đều hiện bóng mặt trăng. Muôn ngàn ao hồ đều có muôn ngàn mặt trăng, nhưng tất cả đều là bóng. Như vậy khi tâm trí sáng thì muôn sự muôn vật trên thế gian này ta biết giống như bóng mặt trăng dưới trăm ngàn ao hồ, tất cả đều tạm bợ hư giả. Thấy biết rành rõ như vậy.
Tâm ta chưa phải là Chân như nên gương trí tuệ bị bụi lấp trăm ngàn lớp. Bởi vậy nên thấy cái gì cũng không rõ, tất cả mọi thứ giả tưởng là thật. Đó là chỗ mê lầm của chúng ta.
CHÁNH VĂN:
Thấy biết rành rõ mà thường rỗng lặng. Rỗng tức không tướng, lặng tức không sanh.
GIẢNG:
Người thấy biết tất cả pháp là hư dối, tạm bợ nên tâm thường rỗng lặng. Chúng ta thấy cái gì cũng biết là giả, không bận lòng nữa thì được yên. Lòng yên tức là không dính kẹt vào tướng. Nếu lòng không yên thì bị dính kẹt, mà dính kẹt thì có sanh. Nên yên là không sanh, là đi tới vô sanh. Vô sanh là Niết-bàn.
CHÁNH VĂN:
Chẳng bị thiện ác trói cột. Chẳng bị động tịnh thu nhiếp. Chẳng chán sanh tử, chẳng ưa Niết-bàn.
GIẢNG:
Không còn mắc kẹt hai bên thiện ác, không bị động tịnh thu nhiếp, người này đối với sanh tử không chán, đối với Niết-bàn không ưa. Sống một cách tự tại như như, không bị trói cột bên nào hết.
Bước đầu Phật dạy phải làm mười điều thiện, tránh mười điều ác, tức có phân biệt thiện ác. Đến đây thì dạy chẳng bị thiện ác trói cột. Bởi khi tâm phân biệt thiện ác, ai làm việc thiện mình khen, ai làm việc ác mình chê. Khen thì thương, chê thì ghét. Từ đối đãi thiện ác, mà chúng ta có tâm thương ghét buồn giận đủ thứ. Khi không còn niệm thiện ác nữa, thì có thương ghét gì đâu. Tâm không thương ghét là tâm hết động, hết động là trở lại như như. Nên nói chẳng bị thiện ác trói cột, chẳng bị động tịnh thu nhiếp.
Chẳng chán sanh tử, chẳng ưa Niết-bàn. Chúng ta tu thích Niết-bàn, sợ sanh tử. Còn sợ sanh tử cầu Niết-bàn là Nhị thừa. Nên ở đây nói Tối thượng thừa là chỗ cao tột của sự tu hành, phải siêu thoát như vậy.
CHÁNH VĂN:
Không chẳng hay không, có chẳng hay có. Đi đứng nằm ngồi tâm không dao động. Trong tất cả thời được không chỗ được.
GIẢNG:
Không chẳng hay không, có chẳng hay có tức là mình không mắc kẹt ở chỗ không, cũng không dính ở chỗ có. Có, không đều không kẹt, không dính. Đi đứng nằm ngồi trong bốn oai nghi, tâm không dao động. Bởi vì không kẹt bên nào hết thì còn gì dấy động.
Trong tất cả thời được không chỗ được, tức sống bằng tâm thanh tịnh là được. Nhưng được mà không có gì để được hết, chỉ là tâm thanh tịnh thôi.
CHÁNH VĂN:
Ba đời chư Phật giáo chỉ như thế. Bồ-tát từ bi thay nhau truyền nhận.
GIẢNG:
Chỗ này là chỗ ba đời chư Phật chỉ dạy. Giáo lý chư Phật đều nhắm thẳng một việc này, chúng ta phải thấy biết như thế. Bồ-tát vì lòng từ bi thay nhau truyền và nhận, người này truyền người kia nhận. Tới đây Ngài dẫn chứng các Tổ từ Ấn Độ đến Trung Hoa.
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 5 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Avata
Phạm - Đăng lúc: 04/12/2011 10:55
Đây là yếu chỉ của Thiền Tông,người liễu ngộ sống bình thường,nhưng kẽ tạo tác biến mất.Nhận pháp thân là sống biết trong cái biết,không đem cái sở biết ra tìm biết.Chân Tâm không phải khó tìm tại lòng có trên dưới so đo thành ra tự mang chướng ngại thành ngã chấp không hay ! Người có lòng Tín Tâm (Tin mình cũng là Phật),ví như biết rõ quê hương và đường về quê,nhưng phương tiện tùy thuộc vào khả năng có khác nhau,người đi bộ,kẽ đi xe...người có trí tuệ họ nhẹ nhàng dùng đôi cánh bay thẳng là về tới.Người giác ngộ là họ nhận ra Tánh của mình,thì đã đầy đủ công đức,làm gì có chuyện tu để chứng,nhưng nó thế không phải đến đó là viên mãn,mà cái nhận thức của con đường tu chuyển qua trạng thái khác,trạng thái hàm dưỡng,cáo nghĩa là đúc kết Phật Tính thành khối cứng như kim cương tích lũy lâu nhiều kiếp tỏa sáng mới thành bậc đại sĩ phổ độ chúng sanh,quá trình buông xã đó như người dùi mài kim cương loại bõ chất bám dính.Kiến Tánh là giác ngộ ví như con ong mới lột xác còn non sửa,thời gian hàm dưỡng trong luân hồi cho tới thật cứng xứng với bậc có Bô Đề Tâm.
 

Giới thiệu

Tổ Truyền Đăng

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Cách nay 2556 năm 1. TỔ MA HA CA DIẾP Đồng thời đức Phật 2. TỔ A NAN Sanh sau Phật 30 năm 3. Tổ Thương-Na-Hòa-Tu ( Sanakavasa)  Thế kỷ đầu sau Phật Niết-bàn 4. Tổ Ưu-Ba-Cúc-Đa (Upagupta)  Cuối thế kỷ thứ nhất sau Phật Niết-bàn 5. Tổ...

Thống kê

  • Đang truy cập: 92
  • Khách viếng thăm: 91
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 6608
  • Tháng hiện tại: 443555
  • Tổng lượt truy cập: 22652919

Tin xem nhiều

Xem bản: Desktop | Mobile