Nguyền mong thân cận minh sư, quả Bồ Đề một đêm mà chín. Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa Ưu Đàm mấy kiếp đâm bông.
Rss Feed

Phá mê khai ngộ - Phần 1

Đăng lúc: Thứ sáu - 02/09/2016 05:49
Phá mê khai ngộ - Phần 1

Phá mê khai ngộ - Phần 1

Đức Phật giáng sinh ở miền Trung Ấn Độ mà hiện nay được gọi là nước Nepal, một nước ở ven sườn dãy Hy mã lạp sơn, là dãy núi cao nhất thế giới và tiếp giáp với nước Tây tạng.....
Mục Lục
1. Tiểu sử Đức Phật Thích Ca
2. Đời là bể khổ
3. Xuất gia tìm đạo
4. Thành đạo
5. Hóa độ chúng sinh
6. An Cư Kiết Hạ và Tịnh Xá
7. Pháp Nạn
8. Tam tạng kinh
9. Đức Phật nhập diệt
10. Lời Tán Thán Đức Phật
11. Phổ Hiền Bồ Tát
12. Văn Thù Sư Lợi Bổ Tát  (Bodhisatva Manjusri) Lưỡi Gươm Vàng Trí Tuệ
13. Nghiệp và Nghiệp Quả
14. Luân Hồi   (Wheel of Life)(Reincarnation)
15. Sự Thờ Cúng và Lễ Bái
16. Nhân Quả  (Law of Cause and Effect)
17. Giới thiệu Kinh Pháp Hoa  (Saddharma Pundarika Sutra)
---

1. Tiểu sử Đức Phật Thích Ca

Đức Phật giáng sinh ở miền Trung Ấn Độ mà hiện nay được gọi là nước Nepal, một nước ở ven sườn dãy Hy mã lạp sơn, là dãy núi cao nhất thế giới  và tiếp giáp với nước Tây tạng. Nguyên Ngài là Thái tử nước Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavastu). Phụ hoàng tên là Tịnh Phạn vương Đầu-đà-na (Sudhodana) và Mẫu Hoàng tên là Ma-Da (Maya). Họ của Ngài là Kiều-Đáp-Ma  (Gautama), được dịch là Cù-đàm và tên Ngài là Tất-Đạt-Đa (Siddhartha).
         
Truyện kể rằng: Một hôm vào lễ vía Tinh Tú, vua Tịnh Phạn mở tiệc vui chơi trong thành Ca-tỳ-la-vệ. Sau khi dâng hương hoa cúng kiến trong cung điện xong, Hoàng Hậu Ma-Da cùng gia đình ra ngoài thành để bố thí thức ăn và quần áo cho dân nghèo. Khi trở về cung an giấc, Hoàng Hậu nằm mộng thấy một con voi trắng sáu ngà từ trên không trung bay xuống và sau đó lấy ngà mà khai hông bên hữu của bà mà chui vào. Hoàng Hậu bèn đem điều chiêm bao này thuật lại cho vua Tịnh Phạn nghe. Vừa nghe xong, nhà vua lấy làm lạ bèn cho mời các nhà tiên tri lỗi lạc đến để đoán mộng. Các nhà tiên tri đoán rằng:”Hoàng Hậu sẽ sanh ra một quý tử có tài đức song toàn”.
         
Nhà vua rất vui mừng vì nghĩ rằng ngôi báu của Ngài từ đây có người truyền nối. Theo tục lệ của Ấn Độ thì Hoàng Hậu phải trở về nhà của cha mẹ là vua A Nậu Thích Ca (AnuShakya) ở nước Câu-ly (Koly) để cha mẹ chăm sóc trước khi sanh đẻ. Trên nửa đường đi về nhà cha mẹ, Hoàng Hậu cùng đoàn gia nhân tới vườn hoa Lâm tỳ ni (Lumbini) thì bình minh vừa ló dạng. Vì thấy vườn hoa tươi đẹp nên Hoàng Hậu rảo bước ngắm hoa. Trông thấy nhánh hoa “vô ưu” mới nở vừa thơm vừa đẹp và cành lá sum suê thì Hoàng Hậu bèn lại gần và với tay bên phải để hái hoa thì Thái Tử bỗng đâu từ trong hông phải của bà chun ra. Khi đó bỗng nhiên từ dưới đất mọc lên một đóa hoa sen Thất Bảo lớn như bánh xe mà đỡ cho Ngài. Thái tử vừa giáng sinh thì bước đi bảy bước có bảy đóa sen đỡ chân. Một tay Ngài chỉ lên trời, một tay chỉ xuống đất mà nói rằng:”Thiên thượng, Thiên hạ duy ngã độc tôn”, có nghĩa là trên trời, dưới thế tất cả chúng sinh ai ai cũng đều có chơn ngã là Phật tánh là chơn tâm mới thật là duy nhất của ta. Đây là ngày mồng tám tháng tư âm lịch (624 năm trước Tây lịch). 
Thái Tử được đặt tên làTất-Đạt-Đa (Siddhartha) và cũng theo tục lệ của Ấn Độ thì người con phải lấy họ mẹ là Thích Ca. Hoàng Hậu Ma Da tạ thế sau khi sanh Thái tử được bảy ngày. 
Mặc dầu chết sớm, nhưng Hoàng Hậu rất vui mừng vì đã sanh ra được một quý nhơn và bà nghĩ rằng mình đã làm tròn nhiệm vụ cao quý đó cũng như đã rửa sạch những nghiệp báo trên đời này. Vua Tịnh Phạn giao Thái tử cho em gái của Hoàng hậu là bà Ma-ha-Bà-xà-ba (Mahaprajapati)nuôi dưỡng cho đến khi khôn lớn.
         
Ngày đản sanh Thái tử, khắp nơi trong thành Ca-tỳ-la-vệ đều vui vẻ lạ thường, khí hậu mát mẻ, cây cỏ đều đơm hoa kết trái, trên không thì chim chóc múa ca và hào quang chiếu sáng cả mười phương. Đức vua cha vui mừng khôn xiết và Ngài cho mời các vị tiên tri đến xem tướng cho Thái tử. Có vị đạo sĩ nổi tiếng tên là A Tư Đà (Asita) lúc đó đang tu trên núi Tuyết sơn, được chư Thiên mách bảo, bèn xuống núi đến cung vua để chào mừng và xem tướng cho Thái tử. Gặp Thái tử, đạo sĩ A Tư Đà bỗng nhiên chấp tay vái chào với thái độ hết sức cung kính. Đạo sĩ tuy cười mà vẻ mặt thoáng buồn. Ông nói là rất vui mừng vì :“Thái Tử có 32 tướng tốt xuất hiện nên sau này sẽ thành một vị Thánh”, nhưng ông buồn vì ông tuổi đã quá cao, ắt phải qua đời nên không có cơ hội được trực tiếp giáo huấn bởi vị Thánh nầy để được giải thoát. Nghe xong nhà vua không được vui cho lắm vì Ngài chỉ muốn con mình làm một vị vua để nối dõi tông đường mà thôi. Vì thế mà nhà vua muốn đổi số mệnh cho con mình nên đặt tên cho Thái tử là Tất-Đạt-Đa, theo tiếng Phạn có nghĩa là: Kẻ sẽ giữ chức vị mà mình phải giữ. Chức vị mà nhà vua muốn ám chỉ ở đây là ngôi vua, nhưng nhà vua đâu có ngờ rằng chức vị sau nầy của con Ngài chính là chức vị Phật.
           
Khi Thái Tử lên bảy tuổi, nhà vua cho mời tất cả những vị thầy giỏi nhất trong nước để chỉ dạy cho Ngài. Thái tử làu thông các môn văn học và ngôn ngữ học. Ngài tiếp tục chuyển qua môn công kỹ nghệ học, rồi đến Y học. Sau đó Ngài còn hấp thụ cả về Luận lý học cũng như Đạo học. Riêng về Đạo học, Thái tử được dạy về 4 sách của các Thánh Vệ Đà (Veda). Đây là những sách nói về các Thánh của Bà La Môn . Kinh Phật nói rằng chỉ trong khoảng thời gian từ 7 đến 12 tuổi, Thái tử đã làu thông tất cả 5 môn học và 4 sách Vệ Đà trên. Đến năm 13 tuổi, Thái tử bắt đầu học võ thuật. Nhờ có sức khỏe phi thường, Thái tử học môn gì cũng giỏi. Đặc biệt là môn bắn cung, trong một cuộc hội thi, Thái tử đã bắn một mũi tên xuyên qua 7 lớp trống đồng, trong khi những người giỏi nhất khác chỉ bắn xuyên được ba lớp trống đồng mà thôi.Chẳng bao lâu Thái tử đã trở thành một vị văn võ song toàn khó một ai sánh kip. Song song với sự phát triển về tài năng, đức độ của Ngài cũng phát triển một cách vô cùng nhanh chóng và sâu rộng. Tình thương của Ngài đối với mọi người và mọi vật bao la cao cả. Nhưng có một điều lạ là từ khi sanh ra cho đến khôn lớn, Ngài chưa lần nào được dạo chơi ngoài thành cả.. 

2. Đời là bể khổ

Một ngày xuân nọ, Thái tử theo vua cha ra đồng xem dân chúng cày cấy. Mặc dầu mới nhìn cảnh mát mẻ của mùa xuân với nào là hoa quả tươi thắm, muôn chim ca hót trên cành. Đây là một cảnh thái bình và an lạc, nhưng trong tâm hồn của Thái tử cảm thấy bồn chồn và xao động vì Ngài nhìn sâu vào trong cảnh vật thì nhận thấy rằng cỏi đời không đẹp đẻ an vui như khi mới nhìn qua. Bởi vì dưới ánh nắng thiêu đốt kia, người nông phu và trâu bò phải làm việc hết sức cực nhọc để đổi lấy bát cơm và nắm cỏ. Khi Ngài nhìn qua khu rừng kế bên, thì thấy người thợ săn đang rình trong bụi rặm để nhắm bắn những con chim đang líu lo trên cành mà chính người thợ săn không biết là con cọp đang rình để chụp lấy ông ta. Đây là một cảnh tương tàn tương sát. 
  
Chỉ vì miếng ăn để sống mà người và vật dùng mọi thủ đoạn để giết hại lẫn nhau không biết gớm. Từ đó Ngài nhận thấy rõ ràng sự sanh sống là khổ. Một hôm khác, Thái tử xin vua cha được đi dạo ngoài bốn cửa thành để được tiếp xúc với thần dân. Khi ra đến cửa đông, Ngài gặp một ông già tóc bạc, răng rụng, mắt lờ, tai điếc, lưng còng, chống gậy bước từng bước nặng nề như người muốn ngã. Đến cửa nam, Thái tử thấy một người bịnh hoạn đang than khóc, rên siết đau đớn vô cùng. Qua đến cửa tây, thì Ngài trông thấy một cái thây chết nằm ngay giữa đường, ruồi nhặng bu quanh và thi thể thì sình lên trông rất ghê tởm. Rồi một buổi nọ Ngài ra cửa bắc thì gặp một vị tu sĩ tướng mạo nghiêm trang, điềm tỉnh và thản nhiên như người vô sự đi qua đường. Ngài vội vã đến chào và hỏi về lợi ích của sự tu hành. Vị sa môn đáp lại rằng:”Tôi tu hành là quyết dứt bỏ mọi sự ràng buộc của cuộc đời, để cầu cho mình khỏi khổ và được chánh giác để phổ độ chúng sanh đều được giải thoát như mình”.

Khi về lại hoàng cung, Thái tử nghĩ lại những cảnh: khổ, già, bệnh, chết cùng với cái ấn tượng tương tàn tương sát trong cuộc sống. Ngài ngẫm nghĩ lời giải đáp của vị tu sĩ nọ đã làm cho Ngài vui mừng khôn xiết. Lời người tu sĩ kia chính là ánh sáng mặt trời đã phá tan những đám mây âm u trong tâm khảm của Ngài bấy lâu nay.

Thấy con mình buồn bã, vua Tịnh Phạn truyền dựng lên một cung điện nguy nga tráng lệ và bày đủ trò đàn ca múa hát để cho Thái tử được vui. Thêm vào đó, vua cha còn cưới cho Ngài một người vợ tuyệt thế giai nhân, đó là công chúa Da Du Đà La (Yosodhara). Thái tử bị bắt buộc phải  lập gia thất và sau đó có một người con trai tên là La Hầu La (Rahula). Nhìn con Ngài nói:”Một trở ngại đã được sanh, một ràng buộc đã xảy ra”. Tuy là sống trong lâu đài tráng lệ, cung vàng điện ngọc, vợ đẹp con xinh, quyền uy danh vọng, nhưng Thái tử vẫn thấy lòng mình nặng trĩu bao nổi băn khoăn. Ngài cho rằng đời Ngài đang sống đây không phải là hạnh phúc chân chật, mà là cảnh giả dối, mê muội, chỉ làm cho kiếp sống thêm nặng nề đau khổ. Ngài quyết chí phải tìm một lối thoát, một cuộc sống chân thật và cao đẹp hơn.
         
Sau cùng Ngài xin vua cha cho mình được xuất gia, nhưng vua Tịnh Phạn từ chối lời thỉnh cầu của Ngài. Không còn cách nào khác hơn là Thái tử yêu cầu vua cha bốn điều, nếu nhà vua giải quyết được thì Ngài sẽ bỏ ý định đi tu để ở lại lo chăn dân trị nước. Bốn điều đó là làm sao cho: 
·       Con trẻ mãi không già, 
·       Con sống hoài không chết, 
·       Con mạnh khỏe mãi không đau, 
·       Và cho mọi người hết khổ.
        Bốn điều này làm cho vua cha vô cùng bối rối và không thể nào giải quyết được. Từ khi biết con mình có ý định xuất gia, vua Tịnh Phạn lại càng lo sợ và cố tìm cách để ngăn cản. Nhưng một khi Thái tử đã quyết thì không có sức mạnh nào có thể ngăn cản được ý định của Ngài. 

3. Xuất gia tìm đạo

Một đêm khuya, thừa dịp quân lính canh gác và cung phi mỹ nữ đã ngủ say sau một cuộc yến tiệc linh đình, Thái tử quyết chí ra đi. Ngài vội vàng đánh thức tên giữ ngựa Xa-nặc (Channa)  dậy để thắng cương con ngựa Kiền Trắc (Kantaka) của Ngài.  Trước khi ra đi, Thái tử đi dọc theo hành lang nội cung, đến trước phòng công chúa Da Du Đà La và người con trai đang ngủ say. 

Thái tử hé cửa nhìn vào, lòng Ngài xót xa cho người vợ trẻ và đứa con trai còn nhỏ dại của mình. Nhưng đối với sự đau khổ của nhân loại thì lòng thương xót của Ngài còn da diết hơn. Sau đó, hai thầy trò cùng nhau trốn ra khỏi thành vào đêm mồng tám tháng hai. Lúc đó Ngài được 19 tuổi. Thái tử ra đi là Ngài chấp nhận từ bỏ tất cả. Ngài đã để lại phụ vương, ngai vàng, vợ đẹp con xinh và cuộc sống hạnh phúc của một hoàng tử. Sự hy sinh của Ngài không phải là sự từ bỏ của một người già, đau ốm hay của một người nghèo, bệnh tật đã ngán ngẫm cuộc  đời, mà đây chính là sự hy sinh từ bỏ của một vị hoàng tử đang tuổi thanh xuân và đang sống trong quyền quý giàu sang. Quả thật đó là một sự từ bỏ, hy sinh vĩ đại vô tiền khoáng hậu trong lịch sử của nhân loại.

Khi vào đến rừng sâu, Ngài tìm đến bờ sông Anomà. Nơi đây Ngài  cắt tóc, trao y phục và đồ trang sức cho Xa nặc đem về. Bây giờ Thái tử một mình ra đi với bộ áo màu vàng đơn giản của người tu sĩ và bắt đầu cuộc sống không nhà của người xuất gia cầu đạo. Khi thì Ngài ngồi dưới bóng cây, khi thì Ngài nằm nghĩ qua đêm trong một hang đá. Mặc dầu đi chân không và đầu để trần, Ngài vẫn đi bình thản giữa nắng nóng ban ngày cũng như trong những đêm sương lạnh mà tất cả mọi năng lực cũng như ý chí của Ngài đều dồn về với một lý tưởng cao cả là cố tìm cho được một chân lý tối thượng, lý lẽ của sự sống chết và con đường dẫn tới giải thoát để đạt đến cõi Niết bàn bất tử. Ban đầu, Thái tử đã tìm tới thụ giáo với hai đạo sư danh tiếng nhất ở Ấn Độ thời bấy giờ là Alara Kalama và Uddaka Ramaputta.  
  
 Cả hai vị đều tu theo phép Du già và chứng được những cấp thiền định cao nhất. Ngài Alara thì chứng được cấp thiền Vô sở hữu xứ còn ngài Uddaka thì chứng được cấp thiền Phi tướng phi phi tướng xứ. Đây là những cấp thiền thuộc về vô sắc giới cao nhất mà các tu sĩ Du già có thể đạt được thời bấy giờ. Nhưng đối với Thái tử thì chỉ một thời gian ngắn là Ngài đã đạt được hai cấp thiền nói trên. Nhưng rồi Ngài nhận thấy chân lý và lối tu hành của họ cũng không có gì siêu thoát vì Ngài nghĩ rằng bên cạnh thiền định xuất thần phải còn một cái gì khác cần thiết cho sự tìm lối giải thoát của Ngài.  
   
Vì băn khoăn như thế nên Ngài chọn phương pháp tu khổ hạnh cực đoan may ra Ngài có thể tìm thấy ánh sáng của chân đạo. Ngài tìm đến một nơi có tên là Uruvela. Tại đây có một làng nhỏ mà Ngài có thể đi khất thực hàng ngày. Cảnh vật chung quanh đây thì đẹp đẽ và yên lặng rất thích hợp cho thiền định của Ngài. Cùng đến nơi đây với Thái tử còn có năm nhà tu khác là các ông Kiều Trần Như (Kondana), Ác Bê, Thập Lực, Ma Ha Nam và Bạc Đề. Họ đi theo và tôn kính Ngài như là Đạo sư của họ và họ hy vọng rằng khi Ngài chứng được chân lý bằng cách hành xác thì Ngài sẽ truyền lại chân lý đó cho họ. 
       
Lối tu nầy đòi hỏi người tu phải sống một cách kham khổ từ nhịn ăn uống đến dãi nắng dầm sương, hành thân hoại thể một cách ghê rợn. Ngài đã sống sáu năm trong chổ hoang dã, ghê sợ, trong những bãi tha ma hay những nơi dơ bẩn. Ngài từ chối tắm giặt và không mặc áo quần, tệ hại hơn nữa Ngài còn dầm mình trong nắng hạ ban ngày, và chịu lạnh buốt trong những bụi cây của những đêm đông. 
Ngài không cần dùng nhiều thực phẩm, cố gắng nhịn đói dần dần cho đến khi cái thân đẹp đẽ, vốn là thân Đế vương, mà giờ đây teo rút lại chỉ còn da bọc xương. Bởi vì Ngài nghĩ rằng nếu muốn đạt đến chổ Giác ngộ tối thượng thì mình phải can đảm từ bỏ những gì bên ngoài đã làm cho mình vướng bận cũng như sự thỏa mãn của thân thể. 

Một hôm vì quá kiệt sức, Ngài ngã quỵ bên dòng sông Ni Liên (Neranjara) và khi tỉnh dậy Ngài mới tỉnh ngộ mà nhận thấy rằng lối tu nầy chỉ hành hạ thân xác mà không giải thoát được gì. Ngài nghĩ rằng những rối răm và những căn nguyên của sự đau khổ không phải là từ bên ngoài mà chính là khả năng để từ bỏ những dục vọng từ trong tâm. Vì nhận thức như vậy, nên Ngài quyết định chọn một con đường mới để đi tìm sự giải thoát và Ngài gọi nó là con đường trung đạo. Theo con đường trung đạo nầy thì Ngài đã dùng Giới, Định và Tuệ để tiêu diệt  những ô nhiễm ở trong tâm thức và sau cùng sẽ trừ hết các căn bản bất thiện. Khi Ngài quyết định như thế, năm nhà tu khổ hạnh trước đây theo Ngài đã từ bỏ Ngài và gọi Ngài là người bỏ cuộc vì không tiếp tục tu hành theo như trước. Ngài nhận thấy rằng sức mạnh của cơ thể là một điều rất cần thiết cho thiền định nên Ngài liền xuống sông Ni Liên tắm rửa và bắt đầu trì khai khuất thực. Mặc dù tấm thân tứ đại là vô thường, nhưng Ngài vẫn cần nó như là chiếc thuyền để đưa Ngài đến bên kia bến bờ Giác ngộ.
         
Sau khi Ngài thọ bát cháo sữa do một thôn nữ tên là Sujata cúng dường, thì sức khỏe của Ngài lần hồi khôi phục. Rồi Ngài đi đến dưới gốc cây Tát-bạt-la (Pippala: sau nầy được gọi là cây Bồ-đề, có nghĩa là cây Giác ngộ), Ngài ngồi tỉnh tọa dưới cây Bồ-đề trên một nắm cỏ khô, tham thiền và thề rằng:
         
“Nếu ta ngồi đây mà không chứng được đạo quả, thì dù thịt nát xương tan, ta quyết không bao giờ đứng dậy”. 

4. Thành đạo

Thái tử ngồi nhập định dưới gốc cây Bồ-đề  suốt 49 ngày đêm, và trong 49 ngày đêm đó, Ngài đã không ngừng chiến đấu với bọn Ma-vương. Ma vương ở đây không chỉ giản dị như là những bọn quỷ sứ, răng nanh, sừng nhọn, hoặc là đầu trâu, mặt ngựa, đến bao vây để cố tìm mọi cách hãm hại Ngài, mà Ma vương ở đây chính là: Phiền não ma, Ngũ uẩn ma, Pháp hành ma, Tứ diệt ma, và Chư thiên ma. Vậy ảnh hưỡng của nó như thế nào?
o      Phiền não ma: Đức Phật đã giải thích Phiền não ma trong một đoạn kinh sau đây:
“Này Ma vương, dục lục là ma quán thứ nhất, hai là bất mãn, ba là đói khát, bốn là ái dục, năm là uể oải, buồn ngủ, sáu là sợ hãi, bảy là hoài nghi, tám là phỉ bang và cố chấp, chín là danh lợi, và mười là tự cao, tự đại, kênh kiệu. Này Ma vương, hùng binh của ngươi là thế, chúng luôn luôn thường trụ trong con người xấu xa đê tiện, kẻ hèn yếu thì thất bại, nhưng người nào hạnh phúc được chứng sẽ đạt được chân hạnh phúc. Ta thà chết trên chiến trường còn hơn sống mà thất bại”
         
Vì đã biết rõ đối thủ cuả mình như thế nào, nên với sự kiên tâm và thủ chí, Ngài đã khắc phục được Phiền não ma với tâm nguyện  chuyển ác thành thiện, chuyển mê thành ngộ. Chiến thắng phiền não ma là một chiến thắng từ trong nội tâm và vì thế sự chiến thắng này sẽ chứng tỏ lối tu hành khổ hạnh khi xưa là lầm đường, lạc hướng.

o      Ngũ uẩn ma: Trong chúng ta ai ai cũng có một cái gọi là cái Ta. Cái Ta chính là sự tạo thành bởi ngũ uẩn, mà ngũ uẩn thì gồm có: sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Vì năm món nầy quay cuồng biến chuyển không ngừng trong ta, lúc thì sanh, lúc thì diệt, lúc thì ẩn, lúc thì hiện. Cũng vì sự biến đổi nầy mà đã phát sinh ra không biết bao nhiêu là vọng tưởng trong tâm của chúng ta, hay nói một cách khác là ngũ uẩn chính là vọng tưởng về bản ngã. Do đó, chúng ta có thể nói bản ngã là vọng huyển, vô tưởng, hay ảo giác. Khi đã nhận thấy rõ sự nguy hiểm của cái bản ngã nầy, thì Đức Phật phải phá cho bằng được cái Ta của sự vô thường, có tan, có hợp để đạt đến sự an vui thanh tịnh.

o      Pháp hành ma:  Ma chướng nầy có ý ám chỉ những hành động tạo Nghiệp của Thân, Khẩu, Ý. Những Nghiệp thiện ác này phát xuất từ phiền não và cũng chính nó đã đưa sự đau khổ càng lúc càng tăng và như thế thì kiếp luân hồi sẽ xoay vần bất diệt. Bởi thế Đức Phật dạy rằng:
“Vì bị chi phối bởi tham lam, sân hận, si mê mà Nghiệp hình thành, đó là căn nguyên của mọi đau khổ. Đoạn diệt được tham, sân, si tức là hủy diệt động lực hình thành của nghiệp và mọi đau khổ sẽ chấm dứt”.

o  Tứ diệt ma: Trong thân tứ đại của chúng ta, luật vô thường đóng một vai trò quan trọng, bởi vì chúng ta có sanh tất có tử. Nhưng cứ mỗi một giây, một phút chúng ta đang chết dần chết mòn chứ đâu phải đợi đến khi chúng ta xuôi tay nhắm mắt mới gọi là chết. Thật vậy, cứ một phút trôi qua, thì chúng ta già đi một tí, nhưng vì nó biến đổi quá nhanh nên chúng ta không nhận thấy mà thôi. Khi nào chúng ta còn vô minh, ái dục, phiền não và ô nhiễm, thì chúng ta còn bị định luật sinh tử chi phối. Còn trái lại Đức Phật đã tận diệt những thứ nầy nên Ngài không còn hành, tức không còn tạo nghiệp. Không có hành, thì thức không sanh, mà nếu thức không sanh, thì danh sắc, tức thân tâm không sanh. Thân tâm không sanh thì không có Lục nhập: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Và từ đó nó không sinh ra vui, khổ, yêu, ghét. Không có những thứ này, thì chúng ta không muốn bám lấy để giữ gìn nó và cuối cùng không sinh thì không già, không chết. Đức Phật không còn vô minh, ái dục… nên Ngài đã hoàn toàn thoát ra vòng sinh tử.

o  Chư thiên ma: Đây là loại ma quán duy nhất từ bên ngoài còn bốn loại ma kể trên đều là nội ma cả. Chư thiên ma nầy thì không đáng ngại bằng các nội ma ở trong tâm, do đó Đức Phật lại dạy rằng:”Dù chiến thắng vạn quân ở chiến trường không bằng chiến thắng chính mình, vì đó là chiến thắng cao thượng nhất”. Những chư thiên ma nầy xuất phát từ những vị Trời, những vị quỷ thần trong cãnh giới A-tu-là, dạ xoa. Đôi khi chúng phá phách, và cũng đôi khi chúng phục tòng. Chỉ có nhũng bậc tu hành ở những nơi thanh vắng, hoặc người kém đức có thể bị chúng đe dọa, nhưng đối với những bậc đức độ cao dầy, với ý chí sắt đá không những không khiếp nhược trước bọn ma quỷ này mà họ còn đem lòng Từ Bi Hỷ Xả của mình để hóa độ chúng trở về với chánh đạo.
         
Nhờ năng lực an trụ của tham thiền nhập định, như một bình nước đã được lắng trong không còn chút bợn nhơ, Ngài cảm thấy tâm hồn thật là thư thái và sáng suốt lạ thường. Thế rồi, với tâm vắng lặng, ổn định và trong sáng như pha lê, Ngài lần lượt chứng được tam minh:
  
Túc Mệnh Minh: Vào canh hai, Ngài chứng được Túc Mệnh Minh (Pubbe Nivasanusita nana). Chính cái minh nầy đã cho Ngài thấy rõ tất cả được quãng đời quá khứ của mình trong tam giới. Theo thứ tự, Ngài biết được trước đây Ngài là ai, tên gì, sống ở đâu. Từ đời sống hiện tại này, ký ức Ngài không còn bị hạn chế bởi luật sinh tử nữa. Ngài bắt đầu nhận ra kiếp trước của Ngài là một thiền nhân, tên là Setaketu, đến đời sống trên trái đất này, nhưng trước đó một kiếp thì Ngài là Thái tử Vesantara. Rồi trở lui lại ba đời, bốn, mười, hai mươi, một trăm, một ngàn, một trăm ngàn cho đến khi Ngài còn là một người tu khổ hạnh trẻ tuổi có tên là Thiên Tuệ (Sumedha). Lúc đó Ngài khiêm tốn trước Đức Phật Nhiên Đăng (Dipankara) và phát nguyện như sau:” Ôi! Mong sao một ngày kia con sẽ trở nên một bậc Toàn giác có đủ mọi năng lực như Ngài” . Và cứ thế mà vô số kiếp mở ra trước sự quan sát của Ngài.
  
Thiên Nhãn Minh: Vào lúc nữa đêm, Ngài chứng được Thiên nhãn minh (Catupapata nana). Minh nầy giúp Ngài biết về việc sinh và tử của chúng sinh dựa trên cái nghiệp (Karma) mà chính họ đã tạo ra. Do đó Ngài cũng nhận ra rằng tùy theo các hành động thiện hay bất thiện của chúng sinh mà họ sẽ sinh vào đời sau như thế nào. Cái màng nhện rối răm của những tương quan của quá khứ, hiện tại, và tương lai đã trở nên quá rõ ràng và Ngài đã thấy chúng sinh luân hồi tùy theo những hành động thiện hoặc bất thiện của họ.
  
Lậu Tận Minh: Và sau cùng khi đến canh tư, thì Ngài chứng được Lậu tận minh (Asavakkaya nana). Đây là minh cuối cùng đã giúp cho Ngài thấu hiểu nguồn gốc của sự đau khổ và phương pháp diệt trừ những nỗi khổ đau nầy để được giải thoát ra khỏi cảnh sanh tử luân hồi. Khi đã hiểu rỏ căn nguyên gốc rễ thì Ngài nói rằng: “Đây là khổ, là phiền não, là ô nhiễm. Đây là nguyên nhân đau khổ, phiền não và ô nhiễm.  Đây là sự tận diệt mọi khổ đau, ô nhiễm và cũng chính đây là con đường dẫn đến sự chấm dứt mọi phiền não khổ đau”.( Đây chính là Tứ Diệu đế).  

5. Hóa độ chúng sinh
 
Đức Phật Thích Ca vì lòng từ bi vô bờ vô bến đối với chúng sanh mà xuất gia tìm đạo, bởi thế cho nên sau khi giác ngộ, là Ngài nghĩ ngay đến sứ mạng cao cả, đó là:”Thay thế chư Phật đời trước mà tiếp tục chuyển mê khai ngộ cho tất cả mọi người”.
         
Sứ mạng nầy Ngài biết trước không phải là một việc dễ dàng vì cái đạo của Ngài thì cao thâm huyền diệu, mà chúng sanh căn cơ lại không đều, và từ muôn kiếp đã lặn hụp trong si mê lầm lạc do đó khó có thể nhận hiểu ngay ý nghĩa cao thâm của giáo lý Ngài. Chúng sanh từ lâu đời lâu kiếp đã quen sống trong bóng tối của si mê do đó khi Ngài đem ánh sáng của trí tuệ đến cho họ thì chắc chắn họ sẽ bị chóang mắt. Nhưng Ngài hiểu rằng mặc dù sống trong tăm tối, nhưng mỗi chúng sanh đều có mầm Phật tánh, như hoa sen, mặc dù sống trong bùn tanh hôi, nhưng vẫn luôn luôn tỏa nhụy vàng thơm ngát. Đó là ý chí và lòng cương quyết của Ngài phải cố gắng thực hiện để hoàn thành trách nhiệm của mình. Với trí tuệ sáng suốt và lòng từ bi vô bờ bến cộng với tinh thần bình đẳng và một ý chí dủng mãnh, Đức Phật đã hoàn thành sứ mạng của mình một cách viên mãn. 

Tạo Lập Tăng Đoàn
Việc đầu tiên mà Đức Phật muốn thực hiện là phải hóa độ và kết nạp đệ tử. Những người đệ tử đầu tiên này phải có kiến thức để thấu hiểu giáo lý của Ngài rồi sau đó mới nới rộng đến tất cả mọi người. Ngài thiết lập Tỳ kheo (nam phái) trước rồi Tỳ kheo ni (nữ phái) sau. 
Việc làm đầu tiên của Ngài là muốn đem giáo lý ấy truyền cho hai vị thiền sư Alara Kalama và Uddaka Ramaputta đã dạy cho  Ngài lúc ban đầu, nhưng tiếc thay hai ông nầy đều đã qua đời cách đây không lâu.  

6. An cư kiết hạ và tịnh xá
 
Ở Ấn Độ thì mùa mưa thường xảy ra giữa tháng 7 và tháng 11. Trong khoảng thời gian nầy Đức Phật không đi thuyết pháp từ nơi nầy đền nơi khác mà Ngài cùng chư Tăng tề tựu trong các tu viện để thuyết pháp và tham thiền. Thời gian nầy được gọi là mùa an cư kiết hạ. Đây chính là thời gian mà chư Tăng có cơ hội học hỏi từ Đức Chí Tôn trong suốt 49 năm hành đạo của Ngài. Bao nhiêu bộ kinh hay nhất đã được giảng dạy trong lúc nầy. Khi mùa mưa dứt thì chính Đức Phật cùng tất cả chư Tăng lên đường đi khắp mọi nơi trong nước Ấn độ và Tây Tạng để hoằng dương đạo pháp và họ chỉ trở lại đây vào mùa mưa năm tới mà thôi.

1)   Tịnh xá Kỳ Viên (Jatavana):

Trưởng giả Cấp Cô Độc (Anàthapindika) tên thật là Tu Đạt Đa là đại thần của vua Ba-Tư-Nặc và là vị thí chủ lớn nhất ủng hộ Đức Phật và Tăng chúng. Ông là một người trí tuệ sáng suốt, học hành cao siêu, nhà cửa giàu sang, lòng dạ nhơn đức, thường hay cứu giúp kẻ nghèo hèn cơ khổ, kẻ mồ côi mồ cút nên ai cũng kính mến và ngợi khen mà đặt cho ông danh hiệu là “Cấp Cô Độc”. Truyện kể rằng, vì quá quý mến Đức Phật, ông bèn bạch Phật rằng:”Xin Đức Thế Tôn mở lòng từ bi, dời gót sen đến nước Xá Vệ là chỗ xứ sở của con đặng nhờ Ngài truyền pháp chơn chánh để mà dìu dắt chúng sanh ra khỏi đường mê lối vọng. 

Xin Ngài chuẩn lời thỉnh thì con trở về lập nhà tịnh xá liền”.Phật nhận lời và sai ông Xá Lợi Phất đi trước với ông Tu Đạt Đa đến nước Xá Vệ mà lựa một chỗ đất cao ráo để cất nhà Tịnh xá. Hai ông đi tìm khắp nơi mà chưa được chỗ nào xứng đáng. Sau cùng họ gặp được một miếng đất rộng rãi, cao ráo và mát mẻ, có cây cổ thọ, có suối cam tuyền, cảnh trí thanh tịch, phong quang đẹp đẻ, đáng là một chỗ danh thắng dà lam. Ông Tu Đạt Đa hỏi thăm mới biết miếng đất ấy là vườn của Thái tử Kỳ Đà (Jeta), nên ông đến để bày tỏ lòng sở nguyện của mình. Thái tử Kỳ Đà trả lời rằng:”Như khanh muốn mua vườn của ta thì về chở vàng đến lót khắp cả trên mặt đất, rồi ta sẽ bán cho”. Ông Tu Đạt Đa nghe nói như vậy thì hết sức vui mừng, tức thì trở về sai người chở vàng đến mà trải lót trong nữa ngày thì đầy, chỉ còn mấy chỗ có cây choán, thì không thể trải được mà thôi. 

Thấy ông đang tư lự suy nghĩ  thì Thái tử Kỳ Đà bèn hỏi:”Nếu khanh thấy giá quá cao thì thôi, chớ ta không ép. Vì muốn chìu lòng khanh, ta mới hứa bán, chớ ta là con vua thì đâu có cần tiền mà phải bán vườn”.Ông bèn tâu:”Tâu Điện Hạ! Chẳng phải tôi có lòng nghĩ sự mắc rẽ, mà tôi đang suy tính không biết sai người về lấy vàng trong cái kho nào nữa mà chở đến trải cho đầy những chỗ đất chưa lót vàng đó, chớ không phải tôi tiếc của đâu!  Cúi xin Điện Hạ hoan h.Thái tử nghe nói thì tự nghĩ :”Thật rất ít người trọng đạo mà khinh tài như ông nầy; vì phần nhiều trong nhân gian ai ai cũng muốn tiền bạc sung túc để tiêu xài cho sung sướng, chớ ai lại đem của ra mà mong cầu lấy phước quả về sau như ông nầy”. Thái tử bèn nói với ông Tu Đạt Đa:”Khanh đã có lòng tác phước, ta há không dạ làm lành! Thôi! Bây giờ nếu chỗ đất nào đã trải vàng rồi thì thuộc về phần của khanh, còn mấy chỗ có trồng cây mà không thể trải vàng được tức là của ta, thì ta cũng nguyện dâng cúng luôn cho Phật”. Từ đó công viên có tên là :”Cấp cô độc viên Kỳ đà thụ” hay Tịnh xá Kỳ Viên. 

Đức Phật đã giảng nhiều kinh và lưu lại 19 mùa mưa tại Tịnh xá nầy.Khi thuyết pháp cho ông Trưởng giả Cấp Cô Độc về hạnh Bố thí của người Phật tử tại gia thì Đức Phật dạy rằng:”Sự cúng dường cho Phật cùng chư Tăng là công đức rấtt lớn. Nhưng công đức lớn hơn là phải quy y và thọ trì giới. Nhưng công đức lớn nhất là người Phật tử tại gia cần phải phát triển trí tuệ để thấy được chân tướng của sự vật và hiểu được tánh vô thường vô ngã của sự vật để được giải thoát, tự tại”.Khi ông Cấp Cô Độc lâm bịnh nặng, ông mời Tôn giả Xá lợi Phất đến giảng kinh tại nhà. Sau đó, ông qua đời và sanh lên cõi Trời Đầu Suất (Tushita).

2)   Tịnh xá  Rajakarama:

Cũng tại kinh thành Savathi của xứ Kosala nầy, ngoài Trưởng giả Cấp Cô Độc thì vua Ba Tư Nặc (Pasenadi) cũng là một thí chủ lớn của Đức Phật cùng chư Tăng. Để tỏ lòng kính mến Đức Phật, nhà vua cho xây tu viện Rajakarama để cúng dường cho Phật trong mùa an cư kiết hạ. Trong cuộc chiến tranh giữa hai nước Kosala và Ma Kiệt Đà mà nhà vua của nước Ma Kiệt Đ là A Xà Thế cũng chính là cháu của nhà vua Ba Tư Nặc. Khi nghe tin vua Ba Tư Nặc thua trận, Đức Phật dạy rằng: 
        “Thắng trận sinh thù oán
        Bại trận nếm khổ đau
        Ai bỏ thắng bỏ bại
        Tịch tịnh hưởng an lạc”.
      
3)   Tịnh xá Pubbarama: 

Trong kinh thành Savathi, còn có nữ thí chủ tên là Visakha. Bà xuất thân trong gia đình triệu phú và lấy chồng cũng là triệu phú. Khi bà lên 7 tuổi thì bà may mắn gặp được Đức Phật tại nơi sinh quán của bà, từ đó bà rất kính phục Đức Phật. Biết Đức Phật thường thuyết giảng tại kinh thành Savathi, bà nguyện xây Tịnh xá Pubbarama để cúng dường cho Phật. Chính Đức Phật cùng chư Tăng đả trải qua 6 mùa kiết hạ tại Tịnh xá nầy. Bà Visakha là nữ thí chủ lớn nhất của Đức Phật và Tăng chúng cũng như ông Trưởng giả Cấp Cô Độc là nam thí chủ lớn nhất.

4)   Tịnh xá Trúc Lâm: 

Vua Tân Bà Xa La (Bimbisara) của nước Ma kiệt Đà, có kinh đô là thành Vương Xá,  từng gặp Đức Phật khi Ngài mới xuất gia và yêu cầu Đức Phật trở lại thăm vua sau khi Phật thành đạo. Khi Đức Phật đến, nhà vua cho xây cất Tịnh xá Trúc Lâm để cúng dường cho Đức Phật. Đức Phật đã trải qua 6 mùa an cư kiết hạ tại nơi đây.  Bà vợ thứ của vua là Khema sau nầy cũng xuất gia cùng bà kế mẫu của Phật để lãnh đạo Ni chúng. Còn con vua Tân Bà Xa La là A Xà Thế (Ajatasattu) sau nầy cướp ngôi và giết vua cha. Đó là do nghiệp quá khứ của nhà vua quá nặng nề, nhưng nhờ công đức mà ông đã tạo dựng nhà vua vẫn được sanh lên cõi trời Lummaharajika với cái tên là thiên chủ Janavasabba. Cũng nên nói thêm là vua A Xà Thế sau khi cùng Đề Bà Đạt Ma (Devadatta) âm mưu giết Phật không thành, biết ăn năn hối lỗi, xin Phật cho quy y và trở thành Phật tử tại gia hàng đầu của Đức Phật. Nhưng bởi do nghiệp quá khứ nặng nề, cho nên đến lượt ông, ông cũng bị con ông giết và cướp ngôi.

5)   Tịnh xá vườn xoài: 

Kỹ nữ nổi danh tài sắc Ambapali của thành phố Versali là người mà một thời là ái thiếp của vua Tân Bà Xa la của xứ Ma Kiệt Đà. Ambapali sinh cho vua Tân Bà Xa la một người con. Người con nầy được sinh ra từ những đam mê trụy lạc của một quân vương và một kỹ nữ. Nhưng, đó sẽ là một đóa sen từ bùn lầy tanh hôi mà vươn lên với hương sắc thuần tịnh. Họ đặt tên cho đứa bé là Vimala, có nghĩa là không ô nhiễm, hay sẽ dứt sạch ô nhiễm. Quả nhiên, về sau Vimala xuất gia theo Phật rồi chứng đắc quả A La Hán. Trên đường đến Câu Thi Na trước khi Đức Phật nhập diệt thì Ngài có dừng lại Vesali và nghĩ tại vườn xoài của Ambapali. Được tin, Ambapali đến chào Đức Phật và trân trọng mời Đức Phật cùng chư Tăng ở lại dùng tiệc trai. Sau đó bà kính tặng Đức Phật và chúng Tăng vườn xoài to lớn của bà để làm Tịnh xá. Sau nầy, Ambapali cũng xuất gia và chứng quả A la Hán.

7. Pháp Nạn

Mặc dù Phật giáo dựa trên căn bản từ bi và trí tuệ, nhưng trong suốt cuộc đời  hành đạo, Đức Phật cũng gặp biết bao nhiêu điều cay đắng phát sinh từ lòng đố kỵ của ngoại đạo, tà giáo và lòng ganh ghét của con người.

1)   Âm mưu hại Phật của Đề Bà Đạt Đa: 

Đề Bà Đạt Đa (Devadatta) là con vua Suppabuddha và hoàng hậu Pamita mà Pamita là bà cô của Đức Phật. Ông cũng xuất gia theo Phật cùng một lượt với tôn giả A Nan và những thanh niên khác của giòng họ Thích Ca. Mặc dầu đi tu, nhưng ông ta không chứng được quả vị nào. Ông chỉ giỏi về một số phép thần thông mà thôi và được vua A Xa Thế (Ajattasattu) của xứ Ma Kiệt Đà ủng hộ. Mặc dù lối sống hư hỏng, tin theo tà kiến và tà hạnh, ông ta vẫn được một số khá đông người tán thành và phục tùng. Khi Đức Phật về già thì ông yêu cầu Phật trao quyền lãnh đạo Tăng già cho ông, nhưng Đức Phật kiên quyết không chấp nhận vì biết ông là người không đủ tư cách. 
       
Quyết định của Đức Phật làm cho ông hết sức căm hận. Ông cùng với vua A Xà Thế âm mưu hại Phật. Họ thuê những tay xạ thủ để thủ tiêu Phật, nhưng tất cả đều bị Phật cảm giáo và trở thành đệ tử của Ngài. Thấy kế nầy không thành, một ngày kia khi thấy Đức Phật đang đi dọc theo bờ núi Linh Thứu (Gijjhakuta) thì Đề Bà Đạt Đa đẩy xuống một tảng đá lớn từ trên đỉnh núi để giết Phật. May thay tảng đá nầy lăn đụng vào một tảng đá khác và bị vở nát vì thế Đức Phật chỉ bị xây xát và chảy máu ở chân mà thôi. Đề Bà Đạt Đa chưa chịu thua nên một ngày kia ông cho một con voi điên uống thật nhiều rượu, rồi xua voi húc Phật. Khi con voi chạy đến gần tới Phật thì bỗng nhiên đứng lại và bị Phật cảm hóa. Thấy bao kế hoạch hại Phật đều thất bại, ông bèn nuôi một âm mưu khác, xảo quyệt hơn, là kết hợp với một số Tỳ kheo xấu như Kokàlika để cố tình chia rẽ tăng đoàn. 
Ông đề nghị với Đức Phật 5 điều luật mới như sau:
Tăng sĩ phải sống suốt đời ở trong rừng.  
Chỉ được khất thực để ăn.  
Chỉ được mặc áo làm bằng giẻ rách lượm ở nghĩa địa.  
Chỉ được sống dưới gốc cây.  
Suốt đời không được ăn  thịt cá.  
Đức Phật chỉ trả lời là tùy ý Tăng sĩ chứ Ngài không ép buộc họ. Ông lợi dụng sự từ chối của Phật để lôi kéo theo một số tăng sĩ trẻ, thiếu học thức và không có căn bản giáo lý đi theo mình đến Gayasina. Đức Phật chỉ thị hai vị Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đi theo và thuyết pháp để dẫn họ về với chánh pháp.
Sau đó, Đề Bà Đạt Đa mặc bệnh nan y, nhưng trước khi chết ông ăn năn hối lỗi và tỏ ý muốn gặp Đức Phật. Nhưng vì nghiệp ác quá nặng cho nên ông chết mà không gặp được Phật và phải đọa vào địa ngục, chịu khổ bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp.
 Khi nói về Đề Bà Đạt Đa, Đức Phật dạy rằng:”Vì ông ta bị chinh phục bởi các ác pháp, cho nên phải đọa địa ngục, tức là bị chinh phục bởi lợi dưỡng, danh vọng, dục vọng xấu và tà kiến”. 

2)   Tướng cướp Angulimala:

Tại xứ Kosala, có một tướng cướp khét tiếng hung ác tên là Angulimala. Cha của ông vốn là một quan chức trong triều vua xứ Kosala. Thủa thiếu niên, ông học rất giỏi và rất được các bạn cùng lớp thương yêu. Trong lớp học của ông có vài người ghen tỵ ông nên họ vu cáo với thầy giáo. Vị thầy nầy bắt đầu thù ghét và muốn giết ông bằng cách bắt ông trả học phí bằng 1000 ngón tay phải của con người. Ông rất khổ tâm nhưng phải vâng lời thầy. Ông vào trong rừng Jalini ở Kosala và bắt đầu giết người để có đủ số ngón tay cần thiết. Ban đầu, ông treo các ngón tay người trên cây, nhưng vì các ngón tay bị quạ mổ ăn, cho nên ông xâu ngón tay người lại thành vòng để đeo nơi cổ. Khi ông đã thu thập được 999 ngón thì Đức Phật xuất hiện. Ông rất mừng vì sắp đủ số ngón tay cần thiết để nộp cho thầy giáo ác độc. Thấy Đức Phật, ông liền rút gươm và chạy đuổi theo Phật. Vì Phật dùng phép thần thông nên ông càng đuổi thì càng không bắt kịp được Phật, mặc dầu Phật vẫn đi khoan thai từ từ. 

Cuối cùng, mồ hôi dầm dề và mệt lã, ông dừng lại và gọi :”Này Tu sĩ, hãy dừng chân”. Đức Phật nói từ tốn:”Mặc dầu ta đang đi, nhưng ta đã dừng chân. Còn nhà ngươi đã dừng chân hay chưa?”. Ông không hiểu ý của Phật bởi vì Đức phật đang đi mà lại nói đã dừng chân. Còn ông thì đã dừng chân mà Phật bảo là hãy dừng chân. Thấy ông thắc mắc, Phật dạy:“Đúng là ta đã dừng mãi mãi bởi vì Ta không bao giờ ta dùng bạo lực đối với chúng sinh. Còn nhà ngươi, hãy dừng tay chớ giết hại đồng loại. Vì vậy mà Ta nói rằng, Ta đã dừng và bảo ngươi cũng hãy dừng tay”.

Nghiệp thiện ngày xưa tác động vào tư tưởng của ông khiến ông vứt gươm xuống đất, quỳ xuống và xin quy y theo Phật. Phật chỉ nói một câu đơn giản:”Ehi Bikkhu” (Hãy đến! Tỳ kheo).
Dựa trên hai thí dụ trên thì Đức Phật chính là một ông lương y đại tài vì Ngài tùy theo hoàn cảnh mà hóa độ chứ nhất thiết không theo một đường lối cố định nào. Ngài có đủ pháp môn cho họ khai ngộ và quy y theo Ngài cho dù là kẻ thân, người thù, người thông minh hay kẻ đần độn, kẻ giàu sang hay là người nghèo khổ.
Phát huy tinh thần bình đẳng

Ngoài lòng từ bi vô bờ bến, tinh thần bình đẳng là một đức tính cao quý khác mà Đức Phật đã phát huy ngay từ khi còn thơ ấu. Đối với Ngài thì không có sự khác nhau giữa người nghèo với kẻ sang hoặc người thông minh với kẻ chậm tiến. Nhắc lại thời bấy giờ trong xã hội Ấn Độ, sự phân
chia giai cấp được coi là rất thịnh hành. Bất cứ nơi nào cũng có mấy chục giai cấp khác nhau từ hạ tiện đến giàu sang. Người hạ tiện thì không được phép giao du với cấp cao hơn và ngược lại kẻ giàu sang thì càng không muốn gần gủi  kẻ khốn cùng.

Điển hình là khi Ngài xin nước của một người thuộc giai cấp hạ tiện nhất Ấn độ, người nầy sợ làm ô uế cho Ngài, thì Ngài bảo:”Không có giai cấp, vì mọi người trong máu đều đỏ như nhau và trong nước mắt của ai cũng mặn cả. Mọi người sanh ra đều có Phật tánh và có thể thành Phật”.

Ngay cả trong giáo hội của Ngài, Ngài đã thu nhận cả những người thuộc giai cấp hạ tiện.  Chẳng hạn như ông Ưu Bà Ly, một người thuộc giai cấp hạ tiện, làm nghề gánh phân, nhưng sau đó trở thành một đệ tử rất nổi tiếng về phương diện giới luật của Phật giáo. Sự thâu nhận nầy đã làm cho một số vua chúa bất mãn. Điển hình là vua Ba Tư Nặc đã bạch Phật rằng:”Ngài thâu nhận kẻ hèn hạ vào hàng tông đồ như vậy, không sợ rằng đá sỏi lẫn lộn với châu ngọc làm mất giá trị của chúng Tăng sao?

Phật dạy rằng:” Người hèn hạ mà biết Phật tâm Bồ đề, xuất gia tu hạnh, chứng được chánh quả, thì quý báu vô cùng, chẳng khác gì hoa sen mọc ở bùn lầy nhơ bẩn mà vẫn tinh khiết thơm tho”. 

8. Tam tạng kinh

Trong tất cả 49 năm hành đạo, Đức Phật đã để lại cho Phật giáo 5 bộ kinh. Những kinh pháp của Ngài nói ra là dựa theo khả năng thu nhập của hàng đệ tử. Kinh điển chỉ được viết ra một thời gian dài sau khi Đức Phật nhập diệt. Năm bộ kinh đó là:

v   Phật nói Kinh Hoa Nghiêm: Sau khi Ngài thành đạo, Ngài nói trong thiền định bộ kinh Hoa Nghiêm trong 21 ngày để dẫn dắt các vị Bồ-tát lên địa vị Đẳng giác và Diệu giác. Kinh nầy là kinh cao siêu nhất của Phật giáo. Một niệm tâm trong thiền định mà ngài Thiên Thai có thể chứng được 3000 pháp biến dịch.

v   Phật nói Kinh A-Hàm: Đây là bộ kinh rất căn bản cho tất cả mọi người để hiểu rõ mà tự tu và tự độ. Ngài đã thuyết giảng gần 12 năm và dùng những thí dụ rất thực tế để chỉ rõ chân lý.

v   Phật nói Kinh Phương Đẳng: Đức Phật đã dùng 8 năm để giảng dạy phương pháp tự giác ngộ cho chính bản thân ta đến giác tha là phải cố gắng giác ngộ cho tất cả chúng sinh.

v   Phật nói Kinh Bát Nhã: Ngài đã dùng đến 22 năm trong 49 năm hành đạo để thuyết giảng kinh Bát Nhã. Kinh này giảng dạy đạo lý chân không của vũ trụ và thuyết minh cái thật tướng, vô tướng của các pháp.

v   Phật nói Kinh Pháp Hoa và Niết Bàn: Trong 8 năm còn lại trước khi Ngài nhập diệt, Đức Phật đã nêu rõ nguyên nhân tại sao Ngài xuất hiện trên thế gian nầy:”Khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến’. Sau đó Ngài phú chúc, thọ ký cho hàng đệ tử tương lai sẽ thành Phật.

Đến đây nhiệm vụ thuyết pháp độ sanh của Ngài đã viên mãn. Sau khi Đức Phật nhập diệt, toàn bộ kinh sách được gom góp lại và được gọi là Tam Tạng kinh (Pitaka). Tam Tạng kinh được chia làm:

Ø    Kinh tạng (Sutra-pitaka): bao gồm những giáo lý của Đức Phật để áp dụng tùy theo căn cơ của mỗi chúng sinh.

Ø    Luật   tạng   ( Vinaya-pikata): đây là luật thiên trì dùng để giúp trị những điều gây tội ác của chúng sinh.

Ø    Luận   tạng   (Abhidharma): Tất cả những kinh điển thuộc về loại nầy đếu được dùng để bàn luận, và trả lời những lý lẽ cao siêu của Phật giáo.

Trong lịch sử của Phật giáo liên quan đến kinh điển cho hậu thế, thì chúng ta thấy có tất cả 4 lần đại hội:

1.   Thời kỳ kết nạp thứ nhất: Bốn tháng sau khi Đức Phật nhập diệt, Ngài Ca Diếp thay Phật, thống suất tăng chúng, đã triệu tập một đại hội gồm khoảng 55 đại đệ tử ở thành Vương Xá (Raajagrika). Trong kỳ đại hội này, ngài Ca Diếp được suy tôn ngồi ghế chủ tọa và ngài có nhiệm vụ đọc Luận tạng, còn ngài A Nan, là vị đệ tử thường theo Phật nghe nhiều và nhớ lâu, được cử ra đọc Kinh tạng, và sau cùng ngài Ưu Bà Ly là vị đệ tử thông suốt và nghiêm trì giới luật nhất, được cử ra để đọc Luật tạng. Đại hội nầy được mệnh danh là kỳ kết tập thứ nhứt.

2.   Thời kỳ kết tập thứ hai: Khoảng 100 năm sau khi Đức Phật nhập diệt, vì có sự bất đồng ý kiến về giới điều, nên tăng chúng chia làm 2 nhóm, họp riêng ở hai thành Vaisaly và Vajji.
Nhóm Tăng sĩ ở thành Vaisaly đồng ý là:”không nên sửa đổi những điều luật của Phật truyền dạy, mặc dầu Đức Thế Tôn đã có di huấn rằng nếu chư Tăng đồng ý cùng nhau là thấy điều luật nào của Như Lai đã chế định là ít quan trọng thì được phép sửa chữa”.  
Trong khi đó nhóm tăng ở Vajji sửa đổi mười điều luật của Phật và gọi họ là phái Tiến thủ hay là Đại chúng bộ.  

3.   Thời kỳ kết tập thứ ba: khoảng 274 năm trước Tây lịch, Hoàng Đế A Dực lại triệu tập hơn 1000 vị Đại trưởng lão tại thành Pataliputra dưới quyền chủ tọa của ngài Mục Kiền Liên Tứ Đế (Mogaliputta Tissa). Sau 9 tháng làm việc, hội nghị đã hoàn thành công tác kết tập kinh điển, ngoài ra lại còn chỉnh đốn Tăng giới, bài trừ những hàng Tu sĩ phạm trai, phá giới, vô kỷ luật.

4.   Thời kỳ kết tập lần thứ tư: Khoảng 600 năm sau khi Đức Phật nhập diệt, vua Cà Ni Sắc Ca (Kaniska) đã triệu tập 500 vị Bồ tát, 500 vị Tỳ kheo, cùng 500 Cư sĩ tại gia  họp tại thành Ca Thấp Di La để kết tập Kinh điển dưới quyền chủ tọa của hai ngài Hiệp Tôn Giả và Thế Hựu.

Tóm lại, thì hai kỳ kết tập đầu chưa cần đến sự biên chép, nghĩa là chỉ đọc tụng lại, xem lời lẽ nào là của Đức Phật đã nói ra, hay xét cho những ý nghĩa nào là đúng với chánh pháp. Cho đến kỳ kết tập thứ ba và thứ tư thì mới dùng đến văn tự để biên chép thành sách vở. Trong sự biên chép nầy, chư tăng chia làm hai phái: phái nam thì ghi bằng văn Pali, còn phái bắc thì chép lại bằng văn Phạn.  

9. Đức Phật nhập diệt

Trong cuộc đời hành đạo 49 năm của Đức Phật, Ngài đã không ngần ngại đi khắp mọi nơi từ đông qua tây, từ bắc xuống nam, hết nước nầy đến nước khác để hoằng dương đạo pháp. Hể nơi nào có bước chân Ngài đến là ánh đạo vàng bừng tỏa huy hoàng. Hạt giống từ bi được Ngài tinh tấn gieo khắp các nơi ở Ấn Độ và Tây tạng. Ngài đã được mọi người từ nghèo đến giàu, từ vua chúa đến thứ dân, từ thiện nam đến tín nữ, từ già đến trẻ đều vui vẻ được tắm gội trong ánh sáng trí tuệ và nước từ bi do Ngài tưới xuống. Bất cứ ở đâu có ánh đạo vàng đến thì tà giáo và ngoại đạo phải tránh xa, tan biến như những làn mây, như những bóng tối trước ánh bình minh đang lên.

Khi giác hạnh của Phật đã viên mãn thì Ngài đã 80 tuổi. Cũng giống như mọi người trên thế gian nầy, sắc thân tứ đại của Ngài cũng theo luật vô thường mà biến đổi. Mặc dầu biết trước ba tháng trước ngày nhập diệt, Ngài vẫn không nghĩ ngơi mà vẫn tiếp tục đi truyền đạo.

Một ngày kia, Đức Phật nói với ông A Nan:
“Đạo ta nay đã viên mãn. Như lời nguyện xưa, nay Ta đã có đủ bốn hạng đệ tử: Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, Ưu-bà-tắc (thiện nam), Ưu-bà-di (tín nữ). Nhiều đệ tử có thể thay Ta chuyển xe pháp, và Đạo Ta cũng đã truyền bá khắp nơi. Bây giờ Ta có thể rời các ngươi mà ra đi. Thân hình Ta, theo luật Vô thường, bây giờ như một cổ xe đã mòn rã. Ta đã mượn nó để chở Pháp, nay xe cũng vừa mòn mà Pháp cũng đã lan khắp các nơi, vậy Ta còn mến tiếc làm gì cái thân tiều tụy nầy nữa? A Nan! Trong ba tháng nữa Ta sẽ nhập diệt”.

Một ngày nọ trên đừơng đi thuyết pháp, Ngài gặp một người làm nghề đốt than tên là Thuần Đà (Cunda) mời Ngài về nhà để cúng dường. Ông ta dâng cho Ngài một tô cháo nấm heo rừng, vì thứ nấm nầy rất được giống heo rừng ưa thích.

Sau khi dùng cháo xong, Đức Phật cảm thấy trong người đau đớn vô cùng vì Ngài đã nhiễm bịnh ly huyết rất trầm trọng. Mặc dầu cơn đau đang hành hạ thân thể, nhưng Ngài vẫn cố gắng đi bộ khoảng 9 cây số để đến cho kỳ được Câu Thi Na (Kusinagara). Vì đoạn đường đi quá xa và cơn đau hành hạ nên Ngài phải dừng chân nghĩ tới 25 lần. Lý do mà Ngài phải đến Kusinagara là vì ba điều kiện:

1)   Ngài muốn thuyết pháp một lần chót cho chúng tăng để sống một cuộc đời đạo hạnh.

Phật dạy rằng:”Này ! Các người phải tự thắp đuốc lên mà đi ! Các người hãy lấy Pháp của Ta làm đuốc! Hãy theo Pháp của Ta mà tu giải thoát! Đừng tìm sự giải thoát ở một kẻ nào khác, đừng tìm sự giải thoát ở một nơi nào khác, ngoài các ngươi!”

Rồi Phật lại dạy tiếp:”Này! Các ngươi đừng vì dục vọng mà quên lời Ta dặn. Mọi vật ở đời đều không có gì quý giá. Thân thể rồi sẽ tan rã. Chỉ có đạo Ta là quý báu. Chỉ có chân lý của đạo Ta là bất di, bất dịch. Hãy tinh tấn lên để giải thoát, hởi các người rất thân yêu của Ta”.

Một điều rất quan trọng khác mà chính Đức Phật muốn dạy cho tất cả đệ tử của Ngài trước khi Ngài nhập diệt là “Tứ Y Pháp”.

Phật dạy rằng:” Tứ y pháp có mục đích chính là giúp cho phật tử sau nầy dễ dàng phân biệt đâu là chánh pháp và đâu là tà pháp từ mặt hình thức cho đến nội dung”. Tứ y pháp gồm có: Y pháp bất y nhân, y nghĩa bất y ngữ, y liễu nghĩa bất y liễu nghĩa và y trí bất y thức.

Trước hết ý Phật muốn nói gì về “y pháp bất y nhân”?

Chúng ta sanh ra vào thời không có Phật, nếu muốn công phu tu tập được vững chắc thì chúng ta phải dựa vào chánh pháp để mà tu. Chánh pháp là dựa vào kinh điển bởi vì kinh  điển là lời Phật dạy. Nếu trái với kinh điển mà là kiến giải của riêng người ấy sáng chế thì chúng ta không thể nghe theo. Nói một cách khác chánh pháp là Phật pháp, có nghĩa là tăng đoàn phải lấy tam bảo làm trung tâm chớ không lấy một cá nhân đặc biệt nào làm đối tượng cả. Nhưng  sau khi Đức Phật nhập diệt thì khuynh hướng đó được xoay qua thành “trọng người nhẹ Pháp”. Điều đó có nghĩa là trọng vị tăng hơn là giáo pháp vì thế tam bảo được thay thế bằng tăng bảo. Thật đáng tiếc.

Còn thế nào là y nghĩa bất y ngữ?

Toàn bộ kinh điển của Phật giáo mà ngày nay chúng ta thấy đã được phiên dịch nhiếu lần bằng nhiều dịch giả khác nhau từ tiếng Phạn sang tiếng Hán và sau đó sang tiếng Việt. Phật dạy rằng cho dù là ai có nói hay viết cách gì đi chăng nữa, nếu họ vẫn giữ được ý nghĩa những lời Phật dạy trong kinh thì vẫn là chánh Pháp.  Trong Phật giáo nếu chúng ta tu theo Thiền tông thì cứu cánh là Minh tâm kiến tánh. Còn phía Tịnh Độ thì họ gọi là Nhất tâm bất loạn. Nhưng phía Giáo Môn thì họ gọi là Đại Khai viên giải. Cho dù chúng ta gọi nó là Minh tâm kiến tánh, Nhất tâm bất loạn hay là Đại khai viên giải thì ý nghĩa của nó cũng như nhau. Đó là thấy được tánh giác của mình vậy.

Vậy thế nào là y liễu nghĩa bất y liễu nghĩa?

Liễu nghĩa là thoát ra khỏi vòng sanh tử và không còn còn bị chi phối trong lục đạo luân hồi. 
Quý vị thường nghe câu “ có cầu tất có ứng”. Trong cuộc  sống hằng ngày chúng ta thường hay cầu cho mình được nhiều tiền lắm của, có kẻ cầu cho mình được có con trai  hay con gái. Còn kẻ khác lại cầu cho mình sớm được thăng quan tiến chức. Tất cả những điều cầu xin nầy chỉ liên quan đến một đời nầy của chúng ta mà thôi nhưng chính nó không giúp cho chúng ta thoát ra khỏi lục đạo luân hồi thì Phật gọi là bất liễu nghĩa”.
Đức Phật dạy chúng ta chỉ nên quan tâm đến Liễu nghĩa để có cơ hội giải thoát cho mình ra khỏi lục đạo luân hồi mà thôi. Đây là cứu cánh duy nhất của kẻ tu hành.

Sau cùng là y trí bất y thức?

Trí là  trí tuệ còn thức là cảm tình. Thông thường trong vấn đề giao tế nếu chúng ta dùng cảm tình để xử sự với mọi người thì dễ dàng bị lầm lỗi bởi vì tình cảm là mê muội, không sáng suốt. Phật khuyên chúng ta nên lấy lý trí sáng suốt mà hành sự thì không sợ bị sai lầm.
Sau đó Ngài truyền cho ông Ca Diếp được thừa hưởng Y, Bát của Ngài và khuyên tất cả đệ tử phải lấy giới luật làm thầy.

2)   Ngài muốn thâu nhận người đệ tử sau cùng tên là Tu Bạt Đà La (Subhadda) bởi vì ngoài Đức Phật ra không còn ai có thể cảm hóa nổi ông ta.

3)   Ngài muốn nhục thân Xá Lợi chia thành 8 phần cho 8 vị Quốc vương lớn ở Ấn Độ.
Sau khi dặn dò cặn kẻ xong, Ngài tắm rữa lần cuối cùng trên dòng sông Kakuttha, rồi bảo ông A Nan làm chiếc giường cho Ngài nghĩ. Đầu Ngài hướng về phía bắc và Ngài nằm nghiêng giữa hai cây Long Thọ. Ngài lặng lẽ nhập định, tuần tự trải qua các cấp thiền từ thấp tới cao, rồi từ cao tới thấp và cuối cùng chủ động để nhập diệt. Lúc bấy giờ là nhằm nữa đêm ngày rằm tháng hai âm lịch. Rừng cây Long Thọ (Sal-trees) tuôn hoa  đỏ thắm phủ lên thân Ngài. 
Đức Phật thọ 80 tuổi. Các vị đệ tử tẩm liệm xác Ngài vào kim quan và họ đợi 7 ngày sau khi ngài Ca Diếp trở về từ chuyến đi truyền đạo. 

10. Lời Tán Thán Đức Phật

Họ bắt đầu làm lễ  trà tỳ (lễ hỏa thiêu) cho Đức Phật và đúng như lời dạy của Phật, họ đem nhục thân Xá lợi chia thành 8 phần cho 8 vị Quốc vương lớn ở Ấn Độ.
Có một điều khá tế nhị là sau khi Đức Phật nhập diệt, Ngài đại đệ tử Ca Diếp đã triệu tập 500 vị đại A la hán để cùng nhau kết tập pháp thân Xá lợi của Phật. Đó là bộ tam kinh: Kinh Tạng, Luật Tạng và Luận Tạng, mà không quan tâm, để mặc cho đệ tử phàm phu tranh nhau lấy nhục thân Xá Lợi của Phật. Vậy chúng ta có thể thấy, nhục thân Xá Lợi chỉ có kẻ phàm phu mới quan trọng, còn bậc Thánh lại không quan tâm bởi vì đối với họ giải thoát sinh tử mới là điều tối thượng.
Đức Phật đã đem ánh đạo vàng đến cho nhân loại, nhưng cuộc đời của Ngài có thể tóm gọn một cách giản dị như sau:

§       Ra đời bên cạnh một gốc cây
§       Thành đạo bên cạnh một thân cây
§       Và lìa đời ở giữa hai nhánh cây.

Cuối cùng chúng tôi xin trích dẫn lời ca ngợi Đức Phật của học giả H. G. Wells như sau:
“Nơi Đức Phật ta thấy rõ ràng là con người giản dị, có lòng nhiệt thành, một mình tự lực phát huy ánh sáng tươi đẹp, một nhân vật sống thực, một con người như mọi người, chứ không phải một nhân vật thần thoại ẩn hiện trong nhiều truyện hoang đường. Ngài cũng ban cho nhân loại lời khuyên bảo có tánh cách phổ thông, nhiều quan niệm tân tiến và đạo đức của thế hệ tân thời đều tương hợp với giáo lý ấy”.
          
Đại Đức Sri Radhakrishman thì nói rằng:

“Nơi Đức Phật Thích Ca chúng ta nhận thấy một tinh hoa toàn thiện của người Đông phương, và ảnh hưởng của Ngài trong tư tưởng và đời sống nhân loại là một kỳ công hy hữu cho đến nay không thua kém ảnh hưởng của bất cứ một vị giáo chủ nào trong lịch sử. Mọi người đều sùng kính, tôn Ngài là người đã dựng lên một hệ thống tôn giáo vô cùng thâm cao huyền diệu. Ngài thuộc về lịch sử tư tưởng thế giới, Ngài còn là kết tinh của người thiện trí. Đứng về phương diện trí thức thuần túy, đạo đức trang nghiêm và tinh thần minh mẫn, chắc chắn Ngài là một trong những vĩ nhân cao thượng nhất của lịch sử”.
         
Thêm nữa, chính ông Nehru nói rằng:
         
“Nếu bất kỳ vấn đề nào phải được xem xét, thì vấn đề ấy phải được xem xét một cách hài hòa an lạc và dân chủ như phương pháp mà Đức Phật đã dạy”. Và ông nói thêm:”Có lẽ không thời điểm nào trong lịch sử của nhân loại mà thông điệp về hòa bình của Ngài lại cần thiết hơn cho nhân loại đang khổ đau và điên cuồng như thế giới hiện nay”.
         
Một học giả Hồi giáo Abdul Atahiya nói rằng:” Đức Phật không phải là tài sản riêng cho giới Phật tử. Ngài là tài sản của toàn thể nhân loại. Giáo pháp của Ngài dành cho tất cả mọi người. Mọi tôn giáo, được ra đời sau Đức Phật, đã mượn nhiều ý tưởng hay đẹp từ Đức Phật”.
         
Nhà đại văn hào Aldous Huxley nói rằng:”Duy nhất trong tất cả các tôn giáo lớn trên thế giới, Phật giáo tiến hành trên con đường của mình mà không gây sát hại, hành hạ, cấm đoán, kiểm duyệt hoặc tìm tòi soi bói”.
         
Chính Gandhi tán thán Đức Phật:”Bằng đức hy sinh rộng lớn của Ngài, và bằng phẩm hạnh thanh tịnh vô nhiễm của đời Ngài, Ngài đã ghi tạc lên trên Ấn Độ giáo những dấu vết không bao giờ phai mờ, và đối với bậc thầy vĩ đại ấy, Ấn Độ giáo còn mang một mối nợ phải được tri ân muôn đời”.
         
Ngay cả nhà bác học Albert Einstein cũng nói:”Tôn giáo của tương lai sẽ là một tôn giáo của hoàn cầu, vượt lên trên mọi thần linh, giáo điều và thần học.Tôn giáo ấy phải bao quát cả hai phương diện tự nhiên và siêu nhiên, đặt trên căn bản của ý thức đạo lý, phát xuất từ kinh nghiệm tổng thể gồm mọi lĩnh vực trong cái nhất thể đầy đủ ý nghĩa. Phật giáo sẽ đáp ứng đầy đủ các điều kiện đó. Nếu có một tôn giáo nào đương đầu với các nhu cầu của khoa học hiện đại thì đó là Phật giáo. Phật giáo không cần xét lại quan điểm của mình để cập nhật hóa với những khám phá mới của khoa học. Phật giáo cũng không cần từ bỏ những quan điểm của mình để xu hướng theo khoa học, vì Phật giáo bao hàm cả khoa học cũng như vượt qua khỏi khoa học”.
         
Một triết gia người Uc là Schopenhauer phát biểu rằng:”Phật giáo là một tôn giáo cao cả nhất và là một trong những tia sáng vĩ đại nhất không chỉ riêng cho Châu Á mà cho khắp toàn cầu”.
         
Và sau đây chúng ta hãy nghe tiến sĩ Edward Conze nói về Phật giáo:”Tất cả mọi người sống ở Á Châu đều có thể hảnh diện về một tôn giáo không những có trước tôn giáo Tây phương cả hơn 500 năm mà còn có thể bành trướng và duy trì mà không cần dùng đến bạo lực và không hề bị oen ố bởi những cuộc chiến tranh tôn giáo và thánh chiến”.
         
Sau hết Tiến sĩ Oldenburg, một học giả người Đức:”Không phải chính Đức Phật đã giải thoát con người, nhưng Ngài dạy họ tự giải thoát cho chính mình bởi sự thức tỉnh của những lời dạy phát sinh từ ánh sáng trí tuệ của chính họ”.  

11. Phổ Hiền Bồ Tát

Tây phương Tam Thánh thì có Đức Phật A Di Đà ở cõi Tây Phương Cực Lạc với hai vị thị giả là Quán Thế Âm Bồ Tát và Đại Thế Chí Bồ Tát. Còn Phật Thích Ca Tam Tông thì có Phổ Hiền Bồ Tát hầu bên trái Đức Phật và Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát hầu bên phải. Chúng ta cũng thấy tượng Phổ Hiền Bồ Tát cưỡi voi trắng sáu ngà, hay tay chắp lại.
         
Vài đức tính của Bố tát: Bồ tát không sống riêng cho mình mà sống cho kẻ khác. Họ phục vụ với tinh thần vị tha. Các Ngài không ham muốn, không bám víu vào danh thơm tiếng tốt.  Các Ngài thì chỉ chú trọng đến việc làm, đến sự phục vụ. Chẳng màng được tiếng khen, không sợ bị chê trách. Bồ tát thản nhiên trước lời tán dương hay khiển trách. Họ quên mình trong khi phục vụ kẻ khác, có khi hy sinh đến cả mạng sống để cứu chúng sinh khỏi chết. Họ thực hành tâm Bi (Karunã) và tâm Từ (Metta) đến mức cao độ. Bồ tát chỉ mong sự tốt đẹp và an lành cho thế gian. Các Ngài thương tất cả chúng sinh như bà tử mẫu thương đứa con duy nhất của bà. Chúng ta thương con cái của chúng ta vì chúng là con của chúng ta, có nghĩa là tình thương của chúng ta có điều kiện bởi vì nếu con cái của người khác thì chưa chắc chúng ta thương nó. Còn Bồ tát thì tình thương của họ là tình thương vô điều kiện, có nghĩa là đối với tất cả chúng sinh họ đều thương xót như nhau. Họ thực hiện tánh cách bình đẳng giữa họ và tất cả chúng sinh (para atma samata) cũng như đặt mình trong kẻ khác (para atma Parivartna).
         
Khi Đức Phổ Hiền chưa xuất gia học đạo, thì Ngài là con thứ tư của vua Vô Trách Nhiệm, có tên là Năng Đà Nô. Nhờ Phụ Vương khuyên bảo, nên Thái Tử phát tâm cúng dường Phật Bảo Tạng và thưa với Phật rằng:”Bạch Đức Thế Tôn! Nay con có món công đức cúng dường Ngài và đại chúng trong ba tháng, xin hồi hướng về đạo vô thượng Chánh giác, nguyện phát tâm Bồ đề, tu hạnh Bồ tát mà giáo hóa mọi loài chúng sanh, đặng thành Phật đạo và nguyện đặng cõi Phật rất thanh tịnh trang nghiêm, bao nhiêu những sự tốt đẹp và sự giáo hóa chúng sanh đều y như thế giới của Đức Phổ Hiền Như Lai vậy”. Đức Bảo Tạng Như Lai liền thọ ký rằng:”Hay thay! Hay thay! Ngươi phát thệ nguyện rộng lớn, muốn độ hết thảy chúng sanh đều thành Phật đạo. Trong khi tu Bồ tát đạo, dùng trí Kim Cang mà phá nát các núi phiền não của mọi loài chúng sanh. Vì vậy, nên ta đặt hiệu ngươi là: Kim Cang Trí Huệ Quang Minh Công Đức, trải hằng hà sa
kiếp làm nhiều Phật sự rất lớn, rồi đến thế giới Bất Huyền ở phương Đông mà thành Phật, hiệu là Phổ Hiền Như Lai”.
         
Ngài Phổ Hiền tượng trưng cho chân lý, còn Văn Thù tượng trưng cho chân trí, lý trí dung thông. Ngài tượng trưng cho tam muội, còn Văn Thù tượng trưng cho Bát Nhã. Ngài tượng trưng cho hạnh, còn Văn Thù tượng trưng cho giải. Ngài tượng trưng cho từ bi, còn Văn Thù tượng trưng cho trí tuệ. Do đó, Đức Phật dùng chân trí thâm đạt chân lý hoặc dùng Bi, Trí viên mãn cho nên hai Ngài thường có mặt bên trái, bên phải Đức Phật.
         
Chúng ta thường thấy tượng Phổ Hiền Bồ tát ngồi trên voi trắng sáu ngà có nghĩa là Ngài dùng đại hạnh hóa độ chúng sanh, đưa họ từ bờ mê đến bến giác. Con voi sáu ngà là tượng trưng cho Lục độ: Bố thí, Trì giới, Tinh tấn, Nhẫn nhục, Thiền định, Trí huệ . Ngài chèo thuyền Lục độ để cứu vớt chúng sanh đang chìm đắm trong bể khổ. Mặc dù bể khổ thì rộng lớn mênh mông còn chúng sanh thì vô lượng, nhưng Ngài vẫn không ngại nhọc nhằn tiếp tục cứu vớt chúng sanh kiếp nầy sang kiếp khác. Với chiếc chèo bố thí, cánh buồm tinh tấn, mục tiêu thiền định, tay lái trí tuệ, Ngài luôn luôn kiên nhẫn tiến tới mà chẳng ngại sóng gió để cứu giúp chúng sanh. 

Thấy Phổ Hiền Bồ tát là thấy chân lý do đó chúng ta phải tránh xa mọi ảo vọng để trở về với chân lý. Gạt bỏ mọi vô minh, đừng lấy chân làm giả mà hãy dùng trí tuệ mà nhìn thẳng vào chân lý để được giác ngộ như chư Phật. Chúng ta phải noi theo 10 hạnh nguyện lớn của Ngài  để diệt tan mọi ích kỷ hẹp hòi. Mười hạnh nguyện của Ngài là:
-Lễ kính chư Phật - Khen ngợi Như Lai.
-Cúng dường khắp cả - Sám hối nghiệp chướng.
-Tùy hỷ công đức - Thỉnh Phật chuyển pháp luân.
-Thỉnh Phật thường ở đời - Thường theo học Phật.
-Hằng tùy thuận chúng sanh - Hồi hướng khắp hết.
 (Kinh Hoa Nghiêm, phẩm Phổ Hiền hạnh nguyện)
         
Phổ Hiền Bồ tát sau khi mạng chung, sanh ra các thân khác và các đời khác. Nhưng kiếp nào cũng nhờ lời thệ nguyện mà chăm làm các việc Phật sự và hóa độ chúng sanh đặng cầu cho mau viên mãn những điều mà ngài đã ao ước. Bởi vì có lòng tu hành tinh tấn như vậy, nên nay ngài đã thành Phật, ở cõi Bất Huyền và hóa thân vô số ở trong các thế giới mà giáo hóa chúng sanh. 

12. Văn Thù Sư Lợi Bổ Tát
(Bodhisatva Manjusri) Lưỡi Gươm Vàng Trí Tuệ)
          
Văn Thù Sư Lợi cũng được gọi là Mạn Thù Thất lỵ, có nghĩa là Diệu Đức, Diệu Cát Tường. Diệu Đức được hiểu là mọi đức đều tròn đầy.
           
Thủa xưa, Ngài là con thứ ba của vua Vô Trách Nhiệm có tên là Thái tử Vương Chúng. Ngài cúng dường Phật Bảo Tạng và phát nguyện độ sanh nên được hiệu là Văn Thù Sư Lợi. Sau khi Phật Bảo Tạng thọ ký cho Ngài phải trải vô lượng hằng hà sa số kiếp về sau, thì Ngài sẽ thành Phật ở thế giới thanh tịnh Vô Cấu Bảo Chi thuộc về bên phương Nam, hiệu là Phật Văn Thù. Bồ tát Văn Thù Sư Lợi xuất hiện hầu như trong tất cả các kinh điển quan trọng của Phật giáo Đại thừa: Hoa Nghiêm, Thủ Lăng Nghiêm, Pháp Hoa, Duy Ma Cật…như là một nhân vật thân cận nhất của Đức Phật Thích Ca. 
       
Ngài có lúc thì chính thức thay mặt Đức Thế Tôn diễn nói Chánh pháp, còn có lúc đóng vai người điều khiển chương trình để giới thiệu đến thính chúng một thời pháp quan trọng của Đức Bổn Sư. Ngài thấu hiểu Phật tánh bao gồm cả ba đức: Pháp thân, Bát Nhã và Giải thoát cho nên trong hàng Bồ tát Ngài là thượng thủ. Là vị Bồ tát tiêu biểu cho trí tuệ, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát thường được miêu tả với dáng dấp trẻ trung ngồi kiết già trên một chiếc bồ đoàn bằng hoa sen. Biểu tượng đặc thù của Ngài là trên tay phải, dương cao lên khỏi đầu, là một lưỡi gươm đang bốc lửa. Nó mang hàm ý rằng chính lưỡi gươm vàng trí tuệ nầy sẽ chặt đứt tất cả những xiềng xích trói buộc của vô minh phiền não đã cột chặt con người vào những khổ đau và bất hạnh của vòng sinh tử luân hồi bất tận và đưa con người đến trí tuệ viên mãn. 
       
Trong khi đó, tay trái của Ngài đang cầm giữ cuốn kinh Bát nhã trong tư thế như ôm ấp vào giữa trái tim. Đây là biểu trưng cho tỉnh thức,  giác ngộ. Đôi khi, chúng ta cũng thấy tay trái của Ngài  cầm hoa sen xanh, biểu thị cho đoạn đức. Có nghĩa là dùng trí tuệ để dứt sạch mọi nhiễm ô tham ái, như hoa sen ở trong bùn mà không nhiễm mùi bùn. Nói một cách khác là Bồ tát không phải người ẩn nơi non cao rừng thẩm, hoặc sống trong cảnh thanh tịnh u nhàn, mà là người sống chung đụng với quần chúng, lăn lộn trong đám bụi trần để cứu độ chúng sinh, nên có lúc họ ra làm vua, có lúc làm quan, cũng có khi làm kẻ tật nguyền nghèo khổ…Tuy sống trong dục lạc dẫy đầy, mà Bồ tát vẫn giữ tâm thanh tịnh không bị ô nhiễm như người đời. Đó là nhờ trí tuệ dứt sạch tham ái, viên thành đoạn đức. 
       
Chiếc giáp Ngài mang trên người gọi là giáp nhẫn nhục. Nhờ nó nên các mũi tên thị phi không xâm phạm vào thân. Nó có thể che chở cho Ngài vẹn toàn tâm từ bi do đó bọn giặc sân hận oán thù không thể nào lay chuyển được hạnh nguyện của Bồ tát. Bồ tát không bao giờ rời chiếc giáp nhẫn nhục bởi vì nếu thiếu nó thì họ không thể nào thực hiện được tâm Bồ đề. Nói về Phật giáo Á Châu, thì Ngũ Đài Sơn bên Trung Quốc được xem như là nơi trụ tích của Văn Thù Bồ tát. Ngũ Đài Sơn thuộc địa phận tỉnh Sơn Tây và có năm ngọn núi quần lại với nhau là Đông đài, Tây đài, Nam đài, Bắc đài và Trung ương đài. Phong cảnh rất thanh tú với hồ nước lung linh, những dòng sông trong veo uốn khúc cộng thêm những cảnh quan thiên nhiên kỳ thú như những bức tranh thủy mặc, nên từ lâu được coi là chốn bồng lai tiên cảnh, trú xứ của những vị Tiên theo truyền thuyết Trung Hoa. Kinh Hoa Nghiêm nói rằng: 
       
Ngài Văn Thù trụ lại ở núi Thanh Lương phía Đông Bắc và hiện đang thuyết pháp cho chư Bồ tát nghe. Mà núi Thanh Lương sau nầy được ám chỉ là núi Ngũ đài. Vì thế mà vào đời nhà Đường (736 sau T.L) có vị Thiền sư Đạo Nhất, một vị cao tăng, đã thực hiện một chuyến hành hương trên Ngũ đài sơn. Sư gặp một một lão tăng cưỡi trên mình một con voi trắng ở phía đối diện. Lão tăng nói ngày mai sẽ gặp được Văn Thù Bồ tát, nói xong thì lão tăng biến mất. Sư quá đổi vui mừng và suốt đêm nghĩ lại chùa Thanh Lương, trung tâm của núi Ngũ đài. Sáng hôm sau vào lúc tinh mơ, Sư đã thức dậy, một mình nhắm hướng Tây lên núi. Sư lại gặp vị cưỡi con voi trắng hôm qua và vị tăng khuyến khích sư tiếp tục đi lên núi. 
       
Khi sư đi về hướng Tây Bắc, đi qua một cây cầu thì Sư thấy một dinh thự hùng vĩ trang nghiêm như một tu viện, tất cả đều bằng vàng. Sau đó Sư gặp lại vị lão tăng và không còn nghi ngờ gì nữa, Sư biết chắc vị lão tăng kia chính là Văn Thù Bồ tát hóa hiện. Sư mừng đến độ choáng váng phải một lúc sau Sư mới hoàn hồn tỉnh lại. Nhân cơ hội nầy Sư đã tham vấn về những khúc mắc trong Phật pháp và Bồ tát cũng ân cần hỏi han về tình trạng Phật pháp ở quê hương Sư. Từ giã Bồ tát bước đi chừng trăm bước, Sư ngoái đầu nhìn lại, tất cả đều biến mất. Sư Đạo Nhất đem tất cả những điều chứng kiến được tâu trình lên vua Đường Huyền Tôn. Nhà vua rất thu hút bởi chuyện nầy nên sai thiết lập ngôi Kim Cát Tự. Đây là ngôi chùa vĩ đại được kiến trúc theo mô hình mà Sư nhớ lại được hoàn tất vào cuối thế kỷ thứ 8.
         
Một nhà sư khác người Nhật tên là Viên Nhân (Ennin) cũng đã hành hương đến Ngũ Đài Sơn vào năm 840 sau T. L. Ông đã lưu lại đây hơn hai tháng và đã ghi lại những điều chứng kiến được như sau:”Vào khoảng đầu hôm, chúng tôi, một nhóm tăng khoảng mười người đột nhiên trông thấy trên bầu trời hướng Đông của thung lũng xuất hiện một cây đèn thần. Ánh sáng ban đầu chỉ nhỏ cỡ chừng bằng một cái bình nhưng sau đó lớn dần lên bằng cả cái nhà. Chúng tôi quả thật rúng động trước cảnh tượng nầy, vội vã quỳ xuống đánh lễ và niệm lớn danh hiệu Bồ tát Văn Thù. Rồi thì một cây đèn khác lại hiện ra gần chúng tôi hơn. 
       
Hai ngọn đèn này nhìn từ xa, cách nhau khoảng chừng 100 bộ, tỏa ánh sang rất rực rỡ cho đến khoảng nữa đêm thì tàn lụi dần và biến mất”. Trong cuốn hồi ký nầy, sư Viên Nhân cũng mô tả lại những kiến trúc, đền đài, những nơi thờ phượng ở trên Ngũ Đài Sơn, kể cả bức tượng Bồ tát Văn Thù rất nổi tiếng tại chùa Hoa Nghiêm. Đây là bức tượng Bồ tát cưỡi trên mình con sư tử lớn bằng cả một ngôi nhà năm gian. Con sư tử trông thật siêu nhiên, vĩ đại và sống động giống như là thật vậy. Khi nhìn, chúng ta có cảm tưởng như là nó đang đi và thở hơi khói ra ở miệng. Sư Viên Nhân viết thêm rằng:” Bức tượng nầy phải đúc đến lần thứ bảy mới hoàn thành bởi vì tất cả những lần trước, lần nào cũng bị bể cả. 
       
Cuối cùng nhà điêu khắc thành tâm khấn nguyện cùng Bồ tát Văn Thù xin Ngài hiện ra cho ông ta thấy hình ảnh trung thực nhất mà Bồ tát muốn miêu tả về mình. Sau khi cầu nguyện, nhà điêu khắc mở mắt ra và vô cùng kinh ngạc khi thấy Văn Thù Bồ Tát cỡi trên mình con sư tử màu vàng xuất hiện trước mắt. Một khoảnh khắc sau đó, Bồ tát bay lên đám mây ngũ sắc và mất hút dần vào khoảng không. Nhà điêu khắc vô cùng vui mừng và cảm kích khi được trông thấy hình ảnh thực sự của Bồ tát, nhưng đồng thời ông cũng không cầm được nước mắt vì hối hận khi đã diễn tả sai lầm về Bồ tát từ trước đến nay”. Con sư tử biểu thị công năng của trí tuệ. Bồ tát do trí tuệ viên mãn để thuyết pháp dẹp tan tất cả mọi tà thuyết. 

Vai trò tuyên dương Diệu Pháp của Bồ tát Văn thù, chúng ta có thể tìm thấy trong kinh: “Văn Thù Sư Lợi nói về cảnh Giới Bất Tư Nghị của Phật”. Đây là một tuyên ngôn của lý tưởng Bố tát đạo được công bố bởi một vị đại Bồ tát đại biểu cho trí tuệ. Mục tiêu, lý tưởng của Bố tát đạo không phải chỉ là để vượt qua vòng sanh tử, đạt đến cảnh giới Niết bàn mà là hoàn thành Phật đạo để cứu độ chúng sanh.
         
Đặc biệt vai trò tuyên dương diệu pháp của Ngài đã được phô trương quá xuất sắc trong kinh”Duy Ma Cật”. Trưởng giả Duy Ma Cật là một cư sĩ tại gia nhưng tu hành chứng đắc, mật hạnh viên thông mà ngay cả những bậc đại đệ tử của Phật cũng không có vị nào sánh bằng. Vì muốn độ người nên Ngài thị hiện ở thành Tỳ Da Ly, dùng vô lượng của cải để nhiếp độ dân nghèo, giữ giới hạnh trong sạch để nhiếp độ kẻ phá giới, dùng hạnh nhẫn nhục để nhiếp độ kẻ giận dữ sân hận, dùng đại tinh tấn để nhiếp độ kẻ biếng nhác, nhất tâm thiền tịch để nhiếp độ kẻ tâm loạn, dùng trí huệ để nhiếp độ kẻ vô trí. 
       
Dù hiện thân bạch y mà giữ giới hạnh trong sạch của Sa Môn, dù ở tại gia mà không đắm nhiễm cõi đời, thị hiện có vợ con quyến thuộc mà thường tu thanh tịnh hạnh, dù mặc đồ quý báu mà dùng tướng tốt để trang nghiêm, dù ăn uống theo người đời mà lấy Thiền duyệt làm mùi vị, hoặc đến chỗ cờ bạc, xướng hát vẫn tùy cơ độ người. Tất cả người gặp đều cung kính cúng dường. Một hôm vì muốn tạo cơ duyên để hoằng pháp lợi sanh, ông đã mượn cớ bị bệnh để tạo dịp giảng giải giáo lý cho chúng sanh. Đức Phật đã biết rõ căn “bệnh” của ông nên đã lần lượt yêu cầu các vị đại đệ tử thay mặt mình đi thăm bệnh ông Duy Ma Cật. Thế nhưng tất cả những đại đệ tử của Phật trong quá khứ đã từng bị trưởng giả Duy Ma cật chất vấn về tâm pháp và sở học mà không một ai trả lời trôi chảy trước kiến thức Phật pháp uyên thâm và biện tài vô ngại của ông nên tất cả đều sợ hãi từ chối. Vài thí dụ điển hình như:
Một hôm A Nan cầm bát đến trước nhà Bà la môn để xin sữa cho Thế Tôn khi Ngài có bệnh. Khi ấy Duy Ma Cật đến hỏi ông rằng:
-  Này A Nan! Làm gì mà cầm bình bát đến đứng đây sớm thế? A Nan đáp:
- Thưa Cư sĩ! Thế Tôn thân có chút bịnh, cần dùng sữa bò nên tôi mới đến đây. 
Cư sĩ Duy Ma cật nói:
       
- Thôi, thôi! A Nan chớ nói như thế. Thân Như Lai là thân Kim cương, ác đã dứt sạch, thiện đã viên mãn, đâu còn bệnh nào, đâu còn khổ não. A Nan, hãy im lặng về đi. Chớ phỉ bang Như Lai, chớ cho người khác nghe biết lời nầy. A Nan, Chuyển Luân Thánh Vương chỉ có chút ít phước đức mà còn chẳng bịnh tật, huống chi là Như Lai vô lượng phước tu, thù thắng khắp nơi. A Nan, nếu ngoại đạo nghe được thì họ sẽ nghĩ rằng: Sao gọi Phật là Thầy cho được? bệnh của mình không chữa nỗi mà chữa được bệnh cho người khác ư? A Nan, nên biết, thân Như Lai tức là pháp thân, chẳng phải thân sắc dục. Phật là Thế tôn siêu việt ba cõi. Thân Phật là vô lậu, các lậu đã sạch, thân Phật vô vi, chẳng lọt vào số lượng. Thân Phật như thế thì còn có bệnh gì? A Nan đành im lặng ra về.
Một hôm khác Trưởng giả Duy Ma Cật gặp La Hầu La. Ông hỏi:
       
-  Thưa ông La Hầu La! Ông là con của Phật, vì đạo bỏ ngôi vua mà xuất gia, thế việc xuất gia đó có những lợi ích gì? La Hầu La trả lời:

-  Sự lợi ích của việc xuất gia đúng như pháp. Trưởng giả Duy Ma Cật nói thêm:
       
-  Này La hầu La! Ông chẳng nên nói lợi ích của công đức xuất gia. Tại vì sao? Vô lợi ích, vô công đức mới là xuất gia. Nếu đứng về pháp hữu vi, mới nói có lợi ích, có công đức. Còn việc xuất gia là pháp vô vi mà trong pháp vô vi chẳng có lợi ích và công đức. La hầu La! Việc xuất gia chẳng có bỉ thử đối đãi, lìa sáu mươi hai kiến chấp. Ở nơi Niết Bàn, là thọ dụng của người trí, là chỗ hành của bậc Thánh, hay hàng phục ma chúng, độ ngũ đạo, tịnh ngũ nhãn, đắc ngũ lực, lập ngũ căn, chẳng làm phiền não người khác, lìa mọi thứ ác, dẹp các ngoại đạo, siêu việt giả danh, ra khỏi bùn lầy thế gian, chẳng bị dính mắc, vô ngã và ngã sở, vô sở lãnh thọ, tâm chẳng nhiễu loạn, ham hộ niệm chúng sinh, tùy thuận Thiền định, lìa những tội lỗi. Nếu được như thế mới là chơn xuất gia.
       
Cuối cùng chỉ có Văn Thù Sư Lợi thay mặt Đức Phật đến thăm bịnh của Trưởng giả Duy Ma Cật mà thôi. Cùng đi với Bồ tát Văn Thù còn có 8000 Bồ tát, 500 Thanh văn và trăm nghìn Thiên nhơn để xem một cuộc tranh luận về giáo pháp của hai nhân vật kiệt xuất nầy.
Duy Ma Cật hỏi: Thế nào là hạt giống Như Lai?  Văn Thù Sư Lợi trả lời:

-  Có thân là hạt giống Như Lai, vô minh, ái dục là giống, tham sân si là giống, tứ điên đảo là giống, lục nhập là giống, thất thức xứ là giống, bát tà pháp là giống, cửu não là giống, thập bát thiện đạo là giống. Nói tóm lại, sáu mươi hai kiến chấp và tất cả phiền não đều là hạt giống Phật. 
Duy Ma Cật hỏi: Tại sao? 
Văn Thù đáp:
       
-  Nếu kẻ thấy vô vi vào chánh vị thì không thể phát tâm Vô thượng Bồ đề nữa. Ví như chỗ gò cao thì không thể sanh hoa sen, mà nơi bùn lầy ẩm thấp hoa sen mới sanh được. Cũng thế, kẻ thấy pháp vô vi vào chánh vị thì chẳng còn có thể sanh khởi Phật pháp, trong bùn lầy phiền não mới có chúng sinh sanh khởi Phật pháp thôi. Nên biết tất cả phiền não là hạt giống Như Lai, ví như chẳng xuống biển cả thì chẳng được bữu châu vô giá. 
        
Cũng thế, chẳng vào biển phiền não thì chẳng thể nào được ngọc báu Nhất Thiết Trí vậy.
  v Chủ điểm nền tảng của kinh Duy Ma Cật là triển khai nhận thức về thực tại trên căn bản của nguyên lý bất nhị, tức hệ tư tưởng tánh Không của Bát nhã. Nguyên lý bất nhị hướng dẫn nhận thức khởi đi từ những thực tại sai biệt mà khám phá ra thực tại tối hậu là nhận thấy bản thể chân thật (tuyệt đối) ngay trong các thực tại sai biệt ấy. Để nhận thức được thực tại chân thật nầy, Bồ tát cần đi qua cánh cửa bất nhị, tức là cánh cửa giao thông cho Bồ tát qua lại giữa Niết bàn và sanh tử.
Bây giờ, Duy Ma Cật  bảo các Bồ tát rằng:Này nhơn giả Bồ tát! Làm sao nhập pháp môn bất nhị?  Hãy tùy sở ngộ của mình mà nói ra.
Tất cả 32 vị Bồ tát lần lượt trả lời về câu hỏi nầy, nhưng cư sĩ Duy Ma Cật đều không hài lòng về các câu trả lời đó. Cuối cùng tới ngài Văn Thù Sư Lợi đáp:

-  Theo ý tôi, nơi tất cả vô ngôn vô thuyết, vô thị vô thức, lìa nơi vấn đáp. Ấy là nhập pháp môn vô nhị.
Khi đó Văn Thù hỏi Duy Ma Cật rằng: 

-  Chúng tôi mỗi mỗi đã tự nói xong. Nay đến lượt Nhơn giả nói:”Thế nào là nhập pháp môn bất nhị của Bồ tát?”
Duy Ma Cật im lặng. 
Văn Thù tán thán rằng:

-  Lành thay! Lành thay! Cho đến chẳng có văn tự, lời nói mới là chơn nhập pháp môn bất nhị.
Bất nhị là cảnh giới của “đại trí tuệ bình đẳng”, có nghĩa là 2 cũng không và 3 cũng không. Nếu nói tới pháp môn bất nhị nầy thì phải lìa xa hẳn ngôn thuyết ở cảnh giới vong ngôn, tuyệt tự. Không thể đem hết thảy ngôn thuyết của tất cả các pháp mà hiểu rỏ được, cũng không thể chỉ bảo được và cũng không thể biết được.  Không thể hỏi và trả lời được, thì đó mới là “pháp môn bất nhị”.
         
Văn Thù Bồ Tát đồng thời cũng còn quan hệ mật thiết với ngọn núi Ghandhamana, “ngọn núi tỏa thơm mùi hương báu”. Trong bộ kinh “Văn Thù Sư Lợi Nhập Diệt”, Ngài được mô tả là đã từng đến viếng dãy Hy Mã Lạp Sơn để chuyển hóa 500 vị đại tiên cư trú tại đây trở về với Phật giáo. Và sau đó, kinh nầy cũng mô tả cảnh Ngài nhập diệt, khi dùng lửa tam muội tự thiêu đốt xác thân của mình. Xá lợi của Ngài được đưa về đỉnh núi Hương Sơn, nơi mà vô số lượng các Thiên, Long, quỷ , thần sẽ tu tập đến để làm lễ tôn kính Ngài. Núi Hương Sơn này đã được nhà học giả Pháp Lamotte xác định là Gandhamana.
Sau hết, chúng ta thờ phượng Văn Thù Sư Lợi Bồ tát là để hướng về trí tuệ sẵn có của chúng ta. Vô minh, ái dục đã đưa chúng ta lặn hụp trong vòng sinh tử luân hồi, chịu chập chồng muôn nỗi khổ đau. Chúng ta hãy thức tỉnh để quay về với trí tuệ sẵn có của mình và dùng thanh gươm trí tuệ chặt đứt lưới tham ái để vượt ra khỏi bể khổ thâm sâu. Vâng, chỉ có trí tuệ mới có đủ công năng cứu chúng ta ra khỏi vòng luân hồi nghiệp báo. Thêm nữa, Bồ tát là tấm gương sáng cho lợi tha, chúng ta phải dùng lưỡi kiếm trí tuệ nầy để cứu thoát mọi người trước kẻ thù phiền não, của con rắn độc tham sân si. Có thực hành được như vậy, mới xứng đáng đánh lễ đức Văn Thù Sư Lợi tay cầm kiếm, mình mặc giáp, ngồi trên lưng sư tử. 
Công đức ở trong tự tánh chẳng phải bố thí, cúng dường mà được. Cho nên nói phước chẳng bằng công đức, bố thí chẳng kịp trì kinh là vậy. 

13. Nghiệp và Nghiệp Quả

Đã là con người ở trong thế gian này, ai ai cũng phải trải qua những thành bại thịnh suy, nhục vinh vui khổ. Có người thì nghĩ rằng cuộc đời của chúng ta chẳng qua là sự an bài của số mạng hay thiên mạng. Họ tin rằng con người sinh ra mọi việc đều do số định sẵn, hoặc ông trời đã sắp đặt cho. Bởi thế trong nho giáo có câu:
“Nhơn nguyện như thử, thiên lý vị nhiên”
Tạm dịch : Người mong như thế, lẽ trời chưa vậy.
Hoặc là: “Thiên võng khơi khơi, sơ nhi bất lậu”, có nghĩa là: lưới trời lồng lộng, thưa mà khó lọt.

Câu này khẳng định là một khi số trời đã định thì không ai thoát ra khỏi được.

Nhưng nếu quả thật có một ông trời mà có quyền quyết định mọi hành động và số mạng của chúng ta, thì đời sống của chúng ta thử hỏi có còn thú vị gì chăng? Khi ông trời muốn ta vui, thì ta được vui. Còn nếu ông trời muốn ta khổ, thì ta phải khổ. Nói một cách khác thì mọi sự khổ vui của con người do số định sẵn, thì con người phải chấp nhận số phận của mình, gặp hoàn cảnh nào cam chịu hoàn cảnh đó. Nếu gặp phải cảnh quá khắc nghiệt, thì họ đâm ra than trời trách đất, cho rằng trời đất đã chơi xấu họ và làm cuộc đời họ thêm điêu tàn.   
 
Giáo lý của Đức Phật thì ngược lại. Con người là Thượng đế của chính mình chớ không ai khác, bởi vì chỉ có mình mới có thể thay đổi vận mệnh cho mình bằng cách cải biến những nghiệp căn. Do đó hạnh phúc hay đau khổ là do chính chúng ta tự tạo lấy cho mình. Hễ mình tạo nghiệp nhân gì, thì mình phải chịu quả nghiệp ấy chứ không ai có thể cầm cân thưởng phạt, ban phước  hoặc giáng họa cho mình cả.
         
Chúng ta biết giáo lý của Đức Phật thì cao thâm còn kinh điển thì thiên kinh vạn quyển, nhưng nếu chúng ta ngẩm nghĩ lại thì tựu trung toàn bộ giáo pháp đã đăt trọng tâm vào một chữ “nghiệp’ mà thôi. Bởi vì nếu không có nghiệp thì không có luân hồi, không còn sanh tử, không có tái sanh, không còn đau khổ, và sẽ không còn chúng sinh, không còn Bồ tát nữa. Thế giới này sẽ không còn gọi là trần gian, mà sẽ đổi lại thành thế giới Cực lạc.

Vậy nghiệp nghĩa là gì?
Nghiệp có nghĩa là do những tư tưởng, lời nói và hành động cố ý mà tạo thành. Có ba loại nghiệp là: thiện nghiệp, ác nghiệp và vô ký nghiệp (không lành mà cũng chẳng dữ). Chẳng hạn như có một con muỗi đậu trên cánh tay của chúng ta, nếu chúng ta đưa tay đập chết nó thì đó là hành động cố ý sát sanh, thì dĩ nhiên là sẽ mang nghiệp quả. Nhưng khi nằm xuống, chúng ta không biết nên đè chết con muỗi, đây là việc làm không tác ý, như vậy hành động này không có nghiệp quả trong tương lai. Đôi khi chúng ta thấy có người cần sự giúp đở hay người xin tiền trên hè phố thì phản ứng tự nhiên là thò tay móc túi cho nhưng trong lòng không có ý niệm từ bi hay thương xót. Hành động nầy tiếp tục mãi thì một ngày nào đó chúng ta tuy vô tình mua tâm vé số mà vẫn được trúng (vô ký).
         
Có người thắc mắc là tại sao trong xã hội có người yểu tử, có kẻ lại sống lâu, có người bịnh hoạn, kẻ khác thì mạnh khỏe, kẻ xinh đẹp, người xấu xí, kẻ giàu sang, người nghèo khổ. Nguyên nhân nào có sự bất bình đẳng như thế giữa con người với con người?
         
Đức Phật trả lời rằng:
“Chúng sanh thọ lãnh báo ứng của Nghiệp mà họ đã tạo tác và chính vì nghiệp báo nầy mà có sự bất bình đẳng giữa tất cả chúng sinh”.
         
Thật vậy, Nghiệp là do chúng ta gây ra từ đời trước. Nếu đời trước hành động thiện thì đời này ta sinh ra gặp hoàn cảnh tốt, mọi việc đều như ý. Nếu đời trước hành động ác thì đời này sinh ra trong hoàn cảnh xấu xa, không vừa ý. Thế là hiện nay chúng ta sinh ra trong hoàn cảnh tốt hay xấu đều do hành động tốt xấu của chúng ta từ kiếp trước chuyển đến mà thôi. Trong kinh Nhơn Quả có nói:” Muốn biết nhân đời trước, chỉ cần xem quả hiện tại ta đang lãnh; và nếu muốn biết quả đời sau, chỉ cần xem nhân mà ta tạo trong đời này”.
         
Vậy Nghiệp từ đâu mà có?
         
Phàm là con người thì chúng ta dễ dàng bị Vô minh, vọng tưởng làm mê muội, mà Tham, Sân, Si là tác động chính. Thật vậy, chính tham, sân, si là ba con rắn độc đã sát hại không biết bao người trong đời nầy. Chẳng những chúng hại người trong đời này, mà còn gây tai ương cho không biết bao kiếp nữa. Còn tham sân si là con người còn đau khổ. Trong ba con rắn độc nầy, thì con rắn Si mê là độc hại hơn cả, bởi si mê nên ta cứ tưởng cảnh giả dối là chơn thật quý báu, và vì thấy những ảo tưởng như thế, nên lòng tham nổi lên để tìm mọi cách chiếm đoạt. Nếu không đoạt được thì tâm sân sẽ nỗi dậy làm cho chúng ta cuồng điên. Thế là từ si khởi tham, từ tham sanh sân, để tạo nghiệp gây khổ cho mình và cho người. Muốn phá tan cây tam độc này, thì chúng ta phải dùng cuốc xẻn để đào tung cái gốc si mê lên. Một khi gốc si mê đã tróc thì thân tham và cành lá sân cũng đổ ngã theo và do đó cây tam độc từ đây sẽ khô khan và bị tiêu hủy.
         
Nhưng tham sân si đã phát hiện bằng cách nào? Xin thưa, chúng phát khởi từ thân, khẩu và ý của chúng ta.

Ø    Thân: là những việc làm mà thân phát sinh là: sát sanh, trộm cắp, và dâm dục. Nếu chúng ta phạm những điều này thì gọi là ác nghiệp, mà nếu chúng ta quyết chí tránh xa nó thì gọi là thiện nghiệp.

Ø    Khẩu: là miệng của chúng ta tạo ra lắm điều phiền toái chẳng hạn như: nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, và nói lời hung ác. Nếu phạm những điều trên, thì chúng ta đã tạo ra ác nghiệp. Còn nếu tu chỉnh, ăn ngay nói thật, thì chúng ta sẽ tạo ra thiện nghiệp.

Ø    Ý: là tư tưởng mà dễ dàng phát sinh ra tam độc: tham lam, giận hờn, si mê. Nếu ta theo nó thì ác nghiệp phát sinh, còn tránh xa nó thì thiện nghiệp sẽ được vun bồi.
         
Vậy thân, khẩu, ý đã tạo ra 10 cái nghiệp mà thường được gọi là thập ác nghiệp. Đó là sát sanh, trộm cắp, dâm duc, nói dối, nói thêu dệt, nói lưỡi hai chiều, nói lời hung ác, tham, sân , si. Nếu chúng ta phạm những điều này thì chính mình đã tạo ra thập ác nghiệp và dĩ nhiên đường dữ sẳn sàng chờ đón chúng ta. Còn nếu chúng ta tránh xa 10 con quái vật này thì đường hậu vận của mình sẽ huy hoàng sáng lạng, cõi cực lạc sẽ chờ đón chúng ta.
         
Thế thì cuộc sống hiện tại chúng ta thấy có những nghiệp gì?
o      Sanh nghiệp: là nghiệp chi phối sự tái sanh. Thần thức tái sanh và sắc ngũ uẩn đầu tiên sẽ tùy thuộc vào sanh nghiệp này.
o      Trí nghiệp: là nghiệp lực duy trì sự sinh tồn của chúng ta từ khi mới sanh cho đến khi chết. Sự sung sướng hay khổ đau trong kiếp sống của chúng ta là tùy thuộc vào trí nghiệp này.
o      Chướng nghiệp: là nghiệp làm trở ngại sanh nghiệp khiến cho đời sống đang bình thường bổng gặp khó khăn.
o      Đoản nghiệp: là nghiệp lực cắt đứt sanh nghiệp, đây là trường hợp những người chết bất đắc kỳ tử. Khi đoản nghiệp của một người phát sinh quá mạnh, thì kiếp sống của họ bị đứt đoạn nữa chừng.
Đã nói về nghiệp, thì phải có nghiệp báo.

Vậy có nhửng nghiệp báo nào?
v   Cực trọng nghiệp: đây là một nghiệp lực rất mạnh và nếu là nghiệp ác thì sẽ luân hồi vào địa ngục ngay. Đó là những tội giết cha, giết mẹ, giết thầy…

v   Cận tử nghiệp: là nghiệp tạo ra lúc lâm chung.  Nghiệp này có thể do hành động, lời nói, hay chỉ nhớ lại những nghiệp đã làm lúc sanh tiền. Một người có thể suốt đời làm việc thiện nhưng khi chết lại nhớ một điều ác gì đó rồi sanh vào cảnh khổ. Trái lại một người luôn luôn làm chuyện ác, nhưng lúc lâm chung giữ được tâm niệm lành thì vẫn được sanh vào nhân cảnh. Tuy nhiên, những việc làm thiện hay ác trước kia vẫn còn tích trữ cho đến khi hội đủ nhân duyên thì sẽ phát khởi.

v   Tập quán nghiệp: là nghiệp thường được tạo tác trong suốt kiếp sống của ta và nó đã trở thành tập quán. Chúng ta tụng kinh, niệm Phật hằng ngày là phát huy trong ta một thói quen tốt. Thói quen này trở thành tập quán thiện và sẽ mang lại kết quả viên mãn.

v   Tích lũy nghiệp: là những nghiệp lực còn duy trì chưa phát hiện vì chưa đủ nhân duyên.
Nếu đã có nghiệp báo thì nghiệp báo xảy ra như thế nào?
         
Luật nghiệp báo  còn được gọi là luật nhân quả của hành động thiện hay bất thiện. Vì thế có nghiệp thì xảy ra nhanh, có nghiệp phải đợi đến kiếp sau mới thấy ứng nghiệm. Chúng ta có:

1)   Hiện báo nghiệp: là những nghiệp gây hậu quả trong kiếp hiện tại. Thí dụ kẻ giết người thì phải đền tội tử.

2)   Sanh bảo nghiệp: là những nghiệp đem lại hậu quả cho kiếp sau. Nếu hiện tại mình tu tâm bố thí, tạo dựng phước đức, thì kiếp sau được hưởng giàu sang.

3)   Hậu báo nghiệp: nếu nghiệp chưa được trả xong kiếp hiện tại hay kiếp kế tiếp, thì sẽ được phát khởi trong bất cứ một kiếp nào về sau khi hội đủ nhân duyên.

4)   Vô hiệu nghiệp: là những nghiệp đáng lý có kết quả trong hiện kiếp hoặc kiếp sau, nhưng không đủ yếu tố để phát sinh nên trở thành vô hiệu quả.

Tóm lại, sự khổ hay vui đều do nghiệp mà chúng ta đã tạo ra, cho nên dù gặp hoàn cảnh nào, chúng ta cũng can đảm nhận chịu, không than thở oán trách ai. Tuy nhiên, nghiệp thì biến chuyển, khi xưa ta hành động ngu tối, thiếu sáng suốt nên chiêu cảm quả khổ. Nay chúng ta đổi hành động theo tâm hồn trong sáng thì quả khổ cũng giảm theo. Hành động luôn luôn thay đổi, nghiệp cũng theo đó mà đổi thay. Nghiệp không phải cố định cứng ngắc, mà biến chuyển linh động tùy theo tâm tư và hành động của con người. Vì thế  trong hiện tại chúng ta cảm thọ cảnh vui hay khổ đều là do nghiệp lành hay dữ trước kia tạo nên. Nếu hiện nay chúng ta chuyển tâm niệm hành động thì sự cảm thọ cũng theo đó mà chuyển.

Nghiệp do mình tạo ra thì chính mình có quyền thay đổi từ nghiệp xấu thành nghiệp tốt. Chẳng hạn như trước kia chúng ta làm nghề trộm cướp, sau này hối cải đổi thành nghề lương thiện.  Nghề nghiệp đổi thay tùy theo tâm tỉnh giác của mình, đổi sang nghề nghiệp mới thì nghề nghiệp cũ từ từ phai nhạt. Vì thế nghiệp nói là sửa đổi, cố gắng tích cực chớ không cam chịu đầu hàng. Nghiệp thì có thể chuyển được, nhưng đòi hỏi chúng ta phải giàu ý chí và đủ nghị lực. Vì thế nghiệp là quyền năng trong tay mình định đoạt. Cuộc sống đời nay và đời sau đều do mình an bày lấy.   
 
Muốn an vui thì do mình, mà muốn đau khổ thì cũng do mình. Ta là chủ của mọi cuộc sống nếu ta còn muốn tiếp tục. Không ai có thể thay đổi hoặc sắp đặt cuộc khổ vui, chỉ có ta mới là người ban vui cứu khổ cho ta. Ta phải dùng trí tuệ để chọn cho ta một cuộc sống đẹp đẽ vui tươi trong hiện tại và mai sau. Nếu có khổ đau đến với chúng ta, ta hãy cười vì đây là kết quả của những hành vi vụng dại ngày trước của mình mà thôi. Chúng ta hãy trả và chuyển những cái gì không hay của quá khứ, đồng thời xây dựng những điều an vui hạnh phúc cho tương lai. Nên nhớ rằng nghiệp tức là sinh tử luân hồi. Ngày nào còn tạo nghiệp thì ngày ấy chúng ta còn phiền não khổ đau.  
 
Phải biết tư duy quán chiếu để thấy rằng thế gian vủ trụ là tạm bợ, chỉ là những duyên khởi, không bền không chắc, nay có mai không. Con người chúng ta có được ngày nay chẳng qua là kết quả của tất cả những nghiệp quả mà chúng ta đã tạo tác trong những kiếp quá khứ cộng với những nhân duyên vì thế muốn có cuộc sống vui tươi hạnh phúc, thân thể và hình dáng tốt đẹp thì đời nầy nên tạo nhiều thiện nghiệp. Chúng ta phải luôn luôn lấy thập thiện nghiệp làm căn bản cho cuộc sống bởi vì chính mười nghiệp lành này có công năng ngăn ngừa những hành vi độc ác, làm cho thân, khẩu, ý được thanh tịnh. Nhờ đó chúng ta mới có hy vọng thoát ly cảnh sanh tử và chứng được Niết Bàn.   
 
Nên nhớ rằng tuy Thân-Khẩu-Ý tạo ra nghiệp để dẫn dắt con người quây cuồng trong sinh tử luân hồi. Nhưng quý vị có biết nguồn gốc tại sao sinh khởi ra tham-sân-si không? Bởi vì chúng ta nghĩ rằng tấm thân tứ đại của mình là thật. Vì tin chắc nó là thật nên con người mới tìm cách bảo vệ, cung phụng và cố tạo những sở hữu chung quanh như nhà cao, cửa rộng, tiền tài, danh vọng, ăn sang mặc sướng, vợ đẹp, con xinh…Lo lắng bảo vệ cho mình cũng chưa đủ mà con người còn cố gắng tạo tác thêm cho bà con dòng họ…  
 
Vì thế mà họ bất chấp mọi việc thiện ác trong đời miễn sao có lợi thì làm. Lợi dĩ nhiên là có nhưng nghiệp cũng vì thế mà tăng theo. Có thêm một chút thì tạo thêm một chút nghiệp. Mà có nghiệp là còn sinh tử luân hồi. Nhưng khi xuôi tay nhắm mắt thì có ai đem theo tiền tài, danh vọng, vợ đẹp, con xinh…theo mình được đâu? Ngay cả tấm thân mà ngày xưa họ tin chắc là thật của họ thì cũng phải bỏ lại cho trời đất. Nếu thân nầy là thật, là bền vững muôn đời thì tại sao chúng ta không đem theo khi chết?   
 
Ngay cả ông Bành Tổ là người tuy sống lâu nhất trong thế gian mà còn phải chết thì con người có ai sống đời đâu? Nếu thân xác là của thế gian thì nó đâu phải là của ta. Chúng ta chỉ mượn đở để dùng trong đời nầy và trả lại cho trời đất khi ra đi. Khi ra đi thì thân xác, thân bằng quyến thuộc, tiền tài, danh vọng… đều phải bỏ lại hết cho thế gian. Còn cái chắc chắn con người sẽ mang theo là cái nghiệp mà họ đã tạo tác trong lúc sinh tiền để tạo cho tất cả những cái mà họ phải bỏ lại. Vì thế con người nên thức tỉnh mà tu tâm dưỡng tánh để không gây ra nghiệp và tìm những sự an lạc trong tâm thức mà vật chất không bao giờ có thể đem đến được. Đây là những hành trang chứa toàn phước đức và công đức mà con người có thể mang theo họ vào cõi an lành.

14. Luân Hồi  
(Wheel of Life)(Reincarnation) 
    
 Đã là con người thì ai lại không quan tâm đến chuyện tử sanh. Người giàu sang, quyền quý thì họ muốn được sống thật lâu để tận hưởng những lạc thú trên đời, còn kẻ cùng đinh thì càng từ chối hội ngộ với diêm vương. Nhắc lại chuyện xưa, vua Tần Thủy Hoàng vì muốn kéo dài sự hưởng thụ ngôi cao tột thế của mình, nên sai không biết bao nhiêu người tâm phúc đi tìm thuốc trường sinh bất tử, nhưng ông ta có thoát khỏi bàn tay lông lá của tử thần không? Bởi thế, kể từ khi khai thiên lập địa đến giờ, từ thiên tử đến chí dân, từ giàu sang đến rách rưới, ai ai cũng không qua khỏi cửa tử cả. Vì thế mới có câu:”Nhân sinh tự cổ thùy vô tử”. Thật vậy, có sanh tất phải có diệt.  
       
Nhưng thế nào là chết?
       
Theo dấu hiệu thông thường của cái chết là khi chấm dứt hơi thở và tim ngừng đập. Còn theo Phật giáo thì chỉ gọi là chết khi nào thần thức (linh hồn )  chính thức lìa khỏi thân xác mà thôi. Thần thức thì có hai phần: phần thô và phần tinh tế. Khi hơi thở dứt và tim ngừng đập, thì phần thô của thần thức đã tan mất. Tuy nhiên, phần tinh tế của tâm thức vẫn còn lưu lại trong xác thân của người chết trong một thời gian dài hơn. Có những trường hợp nó lưu lại trong thân xác ba, bốn ngày hoặc là cả tuần lễ nữa. Trong thời gian thần thức còn lưu lại trong thân xác thì thi hài không bốc mùi hoặc thối rữa. Nhưng trong kinh điển Phật giáo đều khuyến khích là chúng ta cố gắng đừng đụng tới thi hài tối thiểu là sau 8 tiếng đồng hồ kể từ khi tắt thở để thần thức có cơ hội thoát ra một cách bình yên. Khi người đang hấp hối, thì phải tránh gieo cho họ những trạng thái bi ai, luyến ái, hay giận hờn. Bởi vì nếu họ không an tâm mà nhắm mắt thì ảnh hưởng rất lớn cho việc đầu thai hoặc vãng sanh của họ. Tuyệt đối không nên khóc lóc hay bi lụy mà chỉ nên niệm Phật, hoặc tụng kinh Địa Tạng hay kinh A Di Đà cho họ sớm được siêu thoát. (Xin đọc thêm trong phần Pháp tu Tịnh độ).
Khi nói về cái chết, Đức Phật đã nói rằng:
- Hễ có hơi thở ra mà không thở vào là chết.
       
Chính Đức Phật đã khẳng định cái chết đến với mọi người thật dễ dàng vì đời người quá ngắn ngủi mong manh. Vì thế cái chết luôn luôn như chực chờ bên ngoài, bên trong cơ thể và ở ngay trong mỗi con người chúng ta từng giây từng phút.
Theo Phật giáo thì có ba trường hợp đáng lưu ý về sự chết của con người:

1)   Sammattimarana: Đây là sự chết thông thường của con người, đó là tim ngừng đập và sự ngừng thở hoàn toàn. 

2)   Samucchedamarana: Chết và không còn tái sinh. Khi những bậc tu hành đắc đạo hay niệm Phật đến chỗ tam muội (Nhất tâm bất loạn) thì được vãng sanh vào cõi Thánh hay vào cõi bất sinh bất diệt.

3)   Khanakamarana: Chết trong một Sát na (một giây). Đây là cái chết đặc biệt trong tâm tức là sự chấm dứt tư tưởng của dòng tâm thức. Chẳng hạn khi tâm đang suy nghĩ về một vấn đề gì rồi dứt bỏ, chấm dứt, không suy nghĩ đến vấn đề đó nữa thì đây là trạng thái của tâm diệt. 

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến cái chết:

1.    Kãlamarana: Khi thọ mạng hết khiến con người sinh bệnh rồi chết.

2.    Ãyukhayena: Chết do tuổi thọ đã hết.

3.    Kammak-Hayena: Chết vì nghiệp báo ở kiếp nầy đã trả xong.

4.    Ãyukammakhayena: Chết do tuổi thọ và nghiệp quả đã hết.

5.    Upaccheda-marana: Chết vì nghiệp quả quá nặng tác động vào.

6.    Akãlamarana: Chết bất đắc kỳ tử khi đoạn nghiệp của một người phát sinh quá mạnh.

        Nhưng chuyện gì sẽ xảy ra sau khi chết? hoặc là người chết sẽ đi về đâu? từ những thắc mắc đó mà trong nhân gian đã nẩy sinh ra vô số tôn giáo.
       
Có tôn giáo nói rằng, loài người cũng như loài vật, một lần chết là mất hẳn, cát bụi sẽ trở về với cát bụi, chết là hết. Nhưng có những tôn giáo khác lại không đồng ý với tôn giáo trên và nói rằng: loài người chết đi, nhưng linh hồn vẫn vỉnh viễn còn lại, hoặc lên thiên đàng để mãi mãi hưởng những khoái lạc, an vui, hay xuống địa ngục lãnh án cực hình thê thảm.
Vậy ta nên tin theo triết lý nào?  
         
Theo giáo lý nhà Phật thì hai triết lý trên không giải thích được cái gì cả bởi vì nó chỉ là những định đề đơn giản, không hợp lý và không thực tế. Tại sao? Nếu quan niệm rằng sau khi chết muốn được lên Thiên Đàng hay bị đọa vào Địa Ngục thì thần thức (linh hồn) phải đổi thay toàn diện. Đó là nếu muốn được lên Thiên Đàng thì thần thức bây giờ sẽ mất hết tính xấu để trở nên toàn thiện như một vị thiên thần. Ngược lại khi chết thần thức mất hết tính tốt để trở nên xấu xa mà biến thành một thứ ma quỷ và bị đẩy vào Địa Ngục. Điều nầy vô lý vì bất cứ sự tiến hóa nào cũng phải diễn biến từ từ chớ không thể nào đột ngột được và một điều chắc chắn là không một ai toàn thiện hay toàn ác trên thế gian nầy cả. Trong mỗi chúng ta đều có đầy đủ chủng tử thiện ác hoặc là do chúng ta tạo ra trong đời nầy hoặc là do những đời trong quá khứ mang đến. Nếu có những người trong đời nầy biết tu tâm dưỡng tánh nên có rất nhiều chủng tử thiện nhưng những chủng tử thiện ác đã tạo ra trong đời quá khứ họ vẫn phải đeo mang.
         
Sự chết chỉ là giai đoạn chuyển tiếp chứ không phải là hết. Vì thế không có việc quỷ sứ hành hạ tội nhân hoặc thiên thần có cánh bay vèo vèo như những loài chuồn chuồn châu chấu. 

Phật giáo gọi chữ linh hồn của những tôn giáo khác là thần thức và thần thức thì vốn như hư không và không có hình tướng. Khi còn sống, con người hằng ngày đã tạo nên rất nhiều nghiệp báo. Những nghiệp tốt thì gọi là thiện nghiệp còn nghiệp dử thì gọi là ác nghiệp và những thiện nghiệp cũng ác nghiệp nầy được gọi chung là nghiệp thức. Tất cả những nghiệp thức mà chúng ta tạo ra trong đời nầy sẽ được ghi nhận lại bởi một hệ khác là Mạt-Na thức. Sau đó, tất cả những nghiệp thức được chuyển qua và giữ lại ở A-Lại- Da thức. Những chủng tử (cái mầm) của nghiệp thức một khi đã được dồn chứa trong A-Lại-Da thức, thì chúng sẽ tồn tại từ đời nầy sang đời khác cho đến khi gom góp đủ nhân duyên thì chúng sẽ phát sanh. Đến lúc thân chết, thì thần thức phải đi theo nghiệp báo mà biến hóa đổi đời để mang lấy thân khác. Khi đã sang đời khác lại phải chịu ở trong bào thai, tất nhiên mọi sự thấy biết cũng đều khác hết nên không còn nhớ đến những việc cũ nữa. 
 
Nhưng tại sao chúng ta không nhớ đến việc đời trước? Để trả lời Đức Phật dạy rằng:
“Cũng ví như người thợ đúc, khi ông nấu đá quặng để luyện thành sắt, khi thành sắt rồi lại chế thành đồ dùng. Vậy khi đã thành đồ dùng rồi, có thể làm cho nó trở lại thành đá quặng nữa chăng? 
 
Thần thức dời chuyển ở trong thân Trung Ấm (khoảng thời gian vừa chết cho đến khi đi đầu thai sang kiếp khác, thường thường thì khoảng 49 ngày) cũng như đá quặng nấu thành sắt, từ Trung Ấm chuyển sang thân khác, cũng như sắt đã chế thành đồ, hình cũ tiêu đi thể chất đổi khác. Vậy cái thần thức lúc đó thay đổi rồi, không còn nhớ những việc trước nữa. Tại sao thế? Bởi vì phải theo với nghiệp thiện ác của mình đã tạo lập như thế nào, thì thần thức sẽ lại theo nó để hưởng thụ lấy quả báo (tội hay phước) biến hóa đổi đời cũng như đá chuyển thành sắt vậy. 

Vì thế, nếu trong đời này chúng ta làm những việc ác đức, thì lúc chết đi thần thức sẽ phải sa vào làm kiếp súc sanh, hay địa ngục. Nói một cách khác, khi ta chết, không có nghĩa là hết, cũng không có nghĩa là sẽ lên trên hoặc xuống dưới chỉ một lần, mà chúng ta phải quay lộn trong cảnh sanh tử luân hồi. Nên nhớ tất cả những chủng tử của nghiệp thức dồn chứa trong A-Lại-Da thức thì bất biến. Nói một cách một khi chúng ta gây ra một nghiệp nào thì nó sẽ ở mãi trong A-Lại-Da (Tàng thức) từ đời nầy đến đời khác không mất. Khi gặp nhân duyên thì chủng tử sẽ phát sinh để tạo thành quả báo và nó là kết quả của cái vui hay cái buồn của con người trong đời nầy. Chủng tử ví cũng như cái mầm, hột giống. Một khi cái mầm hay hột giống (cái nhân) gặp mưa, gặp đất tốt tức là nhân duyên thì cái mầm sẽ nẩy chồi, sanh rễ rồi thành cây thành quả. Do đó nếu nghiệp mà không có nhân duyên thì nghiệp sẽ không bao giờ thành quả. Vì thế người tu Phật không nên gây ra thêm nhân duyên bất thiện để kết với nghiệp ác trong quá khứ mà thành quả báo dữ làm cho mình đau khổ.  
 
Thế nào là luân hồi? 
  
Luân là bánh xe, Hồi là xoay tròn. Đức Phật đã dùng hình ảnh bánh xe quay tròn để hình dung sự xoay chuyển, lên xuống, xuất hiện của mọi chúng sanh trong cõi lục đạo. Khi thì đầu thai ở cõi nầy, khi ở cõi khác, luôn luôn tiếp nối sanh tử, tử sanh không ngừng, như bánh xe lăn.   
 
Luân hồi chẳng qua là nhân quả liên tục, nhưng vì nó khi biến, khi hiện, khi lên, khi xuống, khi mất, khi còn, khi thay hình đổi dạng, nên chúng ta cứ tưởng như gián đoạn và không ảnh hưởng chi phối lẫn nhau. 
  
Sau đây là lục đạo luân hồi mà chúng sinh có thể nhập vào tùy theo nghiệp nhân mà mình tạo:   
 
1)   Địa ngục (nơi chịu cảnh khổ): khi sanh tiền chúng ta tạo ra lắm điều sân hận, độc ác thì khi chết phải luân hồi vào địa ngục, chịu đủ điều đau khổ. 
   
2)   Ngạ quỷ (quỷ đói): khi sống thì quá tham lam, bỏn sẻn, không biết bố thí, chẳng những không giúp đở người khốn khổ mà còn lập mưu sâu, kế độc để cướp đoạt của người. Khi chết sẽ luân hồi làm ngạ quỷ. 
   
3)   Súc sanh: lúc sống thì si mê sa đọa theo thất tình, lục dục, tửu sắc, khi chết luân hồi làm súc sanh. 
   
4)   A-tu-la (cõi Thần): những người nầy khi sống gặp việc nhân nghĩa thì làm, gặp việc sai quấy cũng không tránh, vừa cương trực mà cũng vừa độc ác. Mặc dù có làm những điều phước thiện, nhưng tánh hung ác vẫn còn, lại thêm tà kiến, si mê, khi chết luân hồi vào cõi A-tu-la. Cõi nầy thì vui sướng cũng có mà đau khổ cũng nhiều. 
   
5)   Loài người: chỉ cần giữ ngũ giới: không sát sanh, không trộm cướp, không tà dâm, không dối trá, không rượu chè say sưa, thì đời sau trở lại làm người. 
   
6)   Cõi trời: bỏ mười điều ác để tạo mười điều thiện thì sẽ luân hồi vào cõi trời, nhưng cõi trời này vẫn còn ở trong vòng phàm tục có nghĩa là vẫn còn chịu cảnh luân hồi sanh tử về sau.   
 
Khi chết thần thức thoát ra khỏi thân xác và chuyển qua một thế giới trung gian (cõi trung giới) trong thời gian từ một đến bảy tuần lễ. Họ trút bỏ thân xác sắc uẩn nặng nề và sự sống tiếp tục bằng cách mang một thân không có xác thịt mà chỉ bằng tư tưởng được gọi là Thân Trung Ấm. Mỗi cảnh giới trong lục đạo được cấu tạo bằng những nguyên tử mà có những tần số rung động (Vibration) khác nhau. Tùy theo nghiệp thức mà nghiệp lực chi phối Thân Trung Ấm có được những rung động tương ứng. Nếu người tạo nhiều nghiệp dữ thì sẽ có tần số rung động thấp, ngược lại người tu hành thanh cao thì có tần rung động rất cao. Sự rung động của Thân Trung Ấm sẽ tương ứng với cảnh giới tần số rung động của một trong sáu cõi luân hồi. Đây chính là “đồng thanh tương ứng” vậy. Thí dụ như trong cõi địa ngục có tần số rung động nặng nề, u ám nhất tương xứng với những vong linh bất hảo, những kẻ sát nhân, người giết hại súc vật, những cặn bả trong xã hội, những kẻ có tư tưởng xấu đầy thú tánh…Ngược lại một người có đời sống trong sạch, tinh khiết sẽ thức tỉnh và tái sinh vào một cảnh giới an lành, tự tại.    
 
Cử Chỉ Của Người Sắp Chết   
 
Đức Phật dạy rằng thân xác tức là sắc uẩn của con người là do tứ đại kết hợp: 
 
Đất là địa tức là thành phần chính tạo nên xương, thịt, bắp thịt, gân, mô, chất sụn hay mô sụn… 
 
Nước là Thủy chính là thành phần cấu tạo nên chất nhờn như đàm, nước miếng, tinh khí, máu huyết, mồ hôi… 
 
Gió thuộc Phong tạo nên hơi thở, sinh khí. 
 
Lửa là Hỏa là phần tạo nên thân nhiệt, sức nóng của cơ thể và cũng là nguồn năng lượng tiềm tàng phát sinh khi toàn bộ cơ thể hay một phần cơ thể hoạt động. 
  
Khi người sắp chết thì tứ đại lần lượt lìa ra khỏi xác thân vì thế thịt, gân, xương trở thành các chất bắt đầu tự hủy hoại từ trong lẫn ngoài. Kế đến là các chất lỏng bắt đầu cô đặc dần dần và máu tụ về một nơi nên lúc đó tim vẫn còn thoi thóp và hơi thở dần dần giảm thiểu rồi dứt hẳn. Quả tim đập một cách yếu ớt và lúc nầy Hỏa vẫn còn lưu chuyển nên ngực còn hơi ấm để rồi tách dần khỏi thể xác khiến cơ thể lạnh dần và da tái mét hay tím ngắt vì đã mất máu và năng lượng nhiệt. 
  
Thông thường mỗi người trước khi trút hơi thở cuối cùng có những cử chỉ đặc biệt, nhưng tựu trung cũng nằm trong bốn trạng thái sau đây: 
  
1)   Hốt hoảng, lo sợ và tiếc nuối làm chân tay run rẩy, chới với và ngơ ngác.. 
 
2)   Đau đớn, khổ sở với nét mặt nhăn nhúm, dáng mặt xanh xám nhợt nhạt, mắt trợn trừng, tay chân co quắp, co giật và quằn quại… 
 
3)   Thâm trầm, lặng lẽ, buông xuôi… 
 
4)   Bình thản với những cử chỉ tự nhiên. Sắp dặt, dặn dò, khuyên nhủ người thân mọi việc như đang chuẩn bị cho chuyến đi xa rồi sau đó mới từ từ nhắm mắt.   
 
Dựa theo Phật giáo thì có 10 hiện tượng lành mà người sắp chết sẽ về cõi Thánh hay được vãng sanh về cõi Tây phương Cực lạc. 
   
1.       Đối với những người bình tĩnh, sáng suốt, không hốt hoảng hay bấn loạn tinh thần. 
 
2.       Biết trước mình sẽ chết nên rất bình thản và tự nhiên chờ đợi. 
 
3.       Họ chuẩn bị mọi việc trước khi ra đi và tắm rửa sạch sẻ, thay quần áo mới và căn dặn người thân như không có gì đáng sợ cả. 
 
4.       Tự nhiên có mùi thơm của hương, hoa tỏa ra quanh người sắp chết. 
 
5.       Tự nhiên như có âm thanh xa vắng mênh mông khác với âm thanh thông thường của thế gian. 
 
6.       Tự nhiên có vầng sáng chiếu vào thân thể người sắp chết. 
 
7.       Tự nói ra bài thơ, bài kệ, hay lời giáo huấn có tính cách Pháp thoại cho đại chúng. 
 
8.       Tự nhiện đọc kinh hay niệm Phật. 
 
9.       Ngồi ngay thẳng, xếp bằng, chấp tay trước ngực rồi nhắm mắt  và trút hơi thở cuối cùng giống như Lục Tổ Huệ Năng tại chùa Nam Hoa, Quảng Đông. 
 
10. Niệm Phật Tam Muội mong về cõi Tịnh độ Phật A Di Đà. 
   
Nếu có chúng sinh nào đạt được phần lớn hay tất cả những điều ở trên thì chắc chắn thoát khỏi sinh tử Luân hồi hay được vãng sanh về cõi Tịnh độ. 
   
Nhắc lại khi con người sắp chết thì mỗi người có các hiện tượng khác nhau bởi vì tất cả đều do nghiệp nhân lành hay dữ của họ gây ra từ trước mà cảm nhận được. Cho nên khi sắp lìa đời thì nghiệp nhân ấy phát khởi, sôi nổi trong tâm thức. Nghiệp nào mạnh thì sẽ bị lôi vào cảnh giới tương đương với nó để thọ báo. Thí dụ như nghiệp lành mạnh thì sẽ hiện ra cảnh giới sung sướng. Ngược lại nghiệp hung dữ ác độc thì hiện ra cảnh giới đau khổ xấu xa. 
   
Nếu có chúng sinh sắp bị đọa vào địa ngục thì nghiệp duyên sẽ khiến họ có những hiện tượng như sau:  
 
§       Gặp con cái, bà con họ hàng nhìn kẻ chết bằng cặp mắt hung dữ ghét bỏ.
§       Người chết đưa hai tay lên mà rờ mò giữa hư không.
§       Cho dù có bậc Thiện-Tri-Thức chỉ bảo, họ cũng không chịu tùy thuận.
§       Kẻ chết kêu gào than khóc.
§       Đi đại tiện và tiểu tiện mà vẫn không hay biết gì.
§       Nhắm nghiền đôi mắt không mở.
§       Thường hay che úp mặt mày.
§       Nằm nghiêng mà ăn uống.
§       Mình mẩy miệng mồm đều hôi hám.
§       Gót chân đầu gối luôn luôn run rẩy.
§       Sống mũi xiên xẹo.
§       Mắt bên trái hay động đậy tức là máy mắt.
§       Hai mắt đỏ ngầu.
§       Úp mặt mà nằm.
§       Thân hình co rút và tay bên trái chấm xuống đất mà nằm.   
 
Nếu có chúng sinh bị lôi vào trong ngạ quỷ thì cũng có những dấu hiệu như sau:   
 
¨     Ưa liếm môi miếng.
¨     Thân nóng như lửa.
¨     Thường lo đói khát và hay nói đến việc ăn uống.
¨     Mắt thường trừng lên mà không chịu nhắm.
¨     Hai mắt khô khan như mắt chim gỗ.
¨     Không có tiểu tiện nhưng đại tiện thì nhiều.
¨     Đầu gối bên phải lạnh trước.
¨     Tay bên phải thường nắm lại tức là biểu hiệu ôm lòng bỏn sẻn.   
 
Nếu có chúng sinh bị lôi vào loài súc vật thì cũng có những hiện tượng như sau:
·       Yêu mếm vợ con, đắm đuối không bỏ.
·       Ngón tay và ngón chân co quắp.
·       Khắp trong thân mình toát ra mồ hôi.
·       Tiếng nói ra khò khè.
·       Miệng thường ngậm đồ ăn. 
  
Nếu có chúng sinh được tái sinh làm người thì trước khi chết có những hiện tượng như sau:
o      Đến khi chết hay khởi niệm lành tức là lòng dạ dịu dàng, phước đức, vui vẻ và vô tư.
o      Thân không đau khổ.
o      Chăm lòng nhớ nghĩ cha mẹ.
o      Con cái đều đem lòng thương mến và gần gũi.
o      Tai thường muốn nghe tên họ của anh em, chị em, bè bạn..
o      Đối với việc lành hay việc dữ lòng không lầm loạn.
o      Tâm tính chính trực, không dua nịnh.
o      Rõ biết bà con bạn bè giúp đỡ cho mình.
o      Thấy bà con chăm sóc sinh lòng vui mừng.
o      Di chúc việc nhà, phân chia tiền của.
o      Sinh lòng tịnh tính, thỉnh Phật, Pháp, Tăng để quy y.   
 
Nếu có chúng sinh được sanh lên cõi an lạc cũng có những hiện tượng sau:  
 
¨     Khởi lòng thương mến.
¨     Phát khởi tiện niệm.
¨     Lòng thường vui vẻ.
¨     Chánh niệm được rõ ràng.
¨     Không có những điều hôi hám.
¨     Sống mũi không xiên xẹo.
¨     Lòng không giận dữ.
¨     Lòng không lưu luyến của cải vợ con quyến thuộc.
¨     Mắt được trong sáng.
¨     Ngửa mặt lên mĩm cười mà nghĩ tưởng thiên cung đến rước họ.   
 
Không nhất thiết tất cả những điều ghi nhận trên đây nhất nhất phải hiển hiện, nhưng chỉ có những điều kiện quan trọng sẽ được hiển hiện mà thôi. 
 
Có thể quan sát các cảm giác trên gương mặt và thân xác của người chết để biết nơi thoát ra của thần thức.

1.       Nếu người sắp chết mà chết tự nhiên, bình tĩnh, sáng suốt và căn dặn mọi điều với con cháu hay bình thản giã từ thân nhân thì thần thức sẽ thoát ra từ ngực.

2.       Nếu người sắp chết từ từ nhắm mắt lìa đời một cách êm ái nhẹ nhàng như đi vào giấc ngủ bình thường thì thần thức sẽ thoát ra từ trán hay ngực.

3.       Nếu trái lại, cơ thể tím ngắt, xạm đen, xanh xám với tiếng rên rỉ, mặt nhăn nhó, quằn quại thân mình thì thần thức chắc chắn sẽ rời khỏi thể xác bằng ngả bàn chân.

4.       Khi người sắp chết tỏ vẻ nuối tiếc, nét mặt khổ đau, kêu than đau đớn, kêu khát nước, đòi ăn, vật vã thì lúc đó thần thức đang chuyển xuống bụng hay đầu gối để tách rời khỏi thể xác.

Vì thế khi rờ nhẹ trên người của người mới chết thì cũng có thể đoán biết thần thức của người chết sẽ đi về đâu:

1)   Nếu người sắp chết mà toàn thân từ từ lạnh ngắt mà đôi mắt vẫn còn nóng thì thần thức sẽ thoát ra nơi đôi mắt và người đó sẽ thọ sanh về cõi Thánh hiền.

2)   Nếu người chết mà toàn thân lạnh ngắt chỉ có đỉnh đầu còn nóng thì thần thức sẽ thoát ra ở đỉnh đầu và người nầy chắc chắn sẽ sanh về một trong những cỏi Trời để hưởng phước lạc.

3)   Nếu người mới chết mà toàn thân lạnh ngắt nhưng ngực còn nóng thì thần thức sẽ thọ sanh vào làm người trở lại. Nên nhớ khi tái sinh thì nghiệp lực cùng với nhân duyên mới có thể sẽ đưa họ đầu thai vào những giống dân khác với giống dân trước khi họ chết. Thí dụ khi sống thì họ là người Tàu, nhưng lúc tái sinh lại trở thành người Ấn độ.

4)   Nếu người chết khắp nơi đều lạnh ngắt mà bụng vẫn còn nóng thì thần thức sẽ sinh vào loài ngạ quỷ.

5)   Nếu người mới chết toàn thân đều lạnh ngắt mà chỉ còn hai đầu gối là nóng thì chắc chắn thần thức sẽ sinh vào loài súc sanh.

6)   Nếu người mới chết toàn thân lạnh ngắt mà hai bàn chân còn nóng thì thần thức sẽ bị đọa vào địa ngục. 

Theo Phật giáo thì tùy theo hơi ấm tụ ở nơi đâu mà có thể biết thần thức được chuyển vào cõi tốt lành thanh thoát hay cõi địa ngục tối tăm. Hơi ấm càng đưa xuống phần dưới cơ thể thì càng xấu. Nói chung hơi ấm mà tụ ở bàn chân, ở đầu gối, ở bụng là xấu. Ngược lại, hơi ấm tập trung ở trán và đầu của người sắp chết là tốt. Khi gặp trường hợp trán và đầu của người sắp chết lạnh trước tiên thì thân nhân hay người đang có mặt phải dùng hai bàn tay để chuyển động như cố ý dồn đẩy hơi ấm vào đầu và trán người sắp chết cho đến khi đầu và trán có chút hơi ấm thì thôi.    
 
Có Ma Hay Không?
Ma luôn luôn là hình ảnh ám ảnh loài người cho dù con người có tin hay không. Con người sợ hãi về ma nhưng vẫn muốn nghe chuyện ma. Rất nhiều người hoặc nghe hoặc thấy ma nhưng thật sự nếu chứng minh có ma hay không theo quan niệm của khoa học thì không phải là chuyện dễ nếu không muốn nói là không thể được. Ma là hiện tượng vô hình nhưng lại xuất hiện rất nhiều trong ý tưởng và trong quan niệm sống của con người trên khắp hoàn cầu. Mỗi tôn giáo có lối giải thích hơi khác nhau về ma, nhưng dựa theo Phật giáo thì ma là những thần thức chưa siêu thoát và không có chỗ nương tựa. Có người khi chết thì thần thức lìa khỏi xác, nhưng thần thức không chịu xa lìa người thân vì chính người chết cũng không nghĩ rằng mình đã chết và họ vẫn sống tự nhiên trong nhà. 
       
Điều làm họ rất đau khổ là tuy họ muốn sinh hoạt với người thân nhưng người thân đâu có thấy họ nên ai ai cũng ơ hờ, hất hủi họ. Thật ra thần thức được cấu tạo bởi những nguyên tử có tần số rung cao hơn cho nên khi chẳng được ai nghe, thấy, biết mình thì họ sẽ vô cùng khổ sở. Đôi khi quá tức giận họ cố tập trung tất cả năng lực làm cho đồ đạc di chuyển hay phát ra tiếng động để tạo sự chú ý với người thân. Một vài trường hợp họ nhờ năng lực cực mạnh để có thể mượn tạm xác thân để hiện ra làm kinh hãi người sống mà chúng ta gọi là ma. Kinh điển Phật giáo xác định ma tức là những thần thức ở cõi âm không đáng sợ vì chúng chỉ xuất hiện ở trạng thái thấp hơn loài người. Đối với người Việt Nam thì không ai lạ gì về câu chuyện con ma nhà họ Hứa tức là con gái ông chú Hỏa. 
       
Riêng tại Hoa Kỳ, Tổng Thống Abraham Lincoln là vị tổng thống có nhiều huyền thoại đầy bí ẩn và kinh dị nhất. Trước hết người con trai tên là William qua đời trong khi ông còn ở tòa Bạch Ốc. Sau khi ông bị ám sát chết ngày 15 tháng 4 năm 1865 thì có những hiện tượng lạ lùng được ghi lại trong cuốn tự điển ma quỷ (Encyclopedia of Ghosts) được nhà xuất bản Avon Books phát hành năm 1991 như sau: Nhiều người nghe tiếng chân đi quanh tòa nhà trắng vào lúc gần sáng. Chính bà Grace Coolidge là vợ của Tổng Thống Calvin Coolidge đã xác định rằng chính bà đã thấy gương mặt của Tổng Thống Lincoln đang nhìn trừng trừng qua cửa sổ của văn phòng bầu dục (Oval Office)  trong tòa Bạch Ốc. Ngay cả Tổng Thống Roosevelt cũng nhiều lần thấy hình dáng rõ ràng của Tổng Thống Lincoln ngay chính nơi phòng mà ngày trước Tổng Thống Lincoln đã ở và làm việc cũng như các phòng lân cận. 

Con người gặp ma thường thì xảy ra bất thình lình chớ không bao giờ được định trước cả và các thần thức ma ít khi tấn công hay gây tổn thương cho bất cứ người nào. Vì có sự ngăn cách về thể chất và môi trường sống tức là có sự ngăn cách của hai thế giới âm và dương cho nên nếu có gặp gở, con người thấy có những điểm kỳ lạ gây ra sự khiếp đảm ngay cả khi hồn ma xuất hiện một cách thầm lặng và hiền hòa. 

Bà Margaret E. Wilson là một nữ họa sĩ nổi tiếng vào những năm 1938, vì nghe tòa biệt thự Borley Rectory với nhiều điều kỳ quái nên xin đến để vẽ một bức tranh. Trong cuốn nhật ký, bà ghi lại như sau:”..Tôi có cảm tưởng như tất cả đều lắng yên nhìn tôi làm việc, lúc đầu tôi không quan tâm vì lo chuẩn bị đồ đạc để vẽ, nhưng khi công việc đã sắp đặt đâu vào đó tôi mới cảm thấy một điều kỳ dị như có ai đó đang chăm chú nhìn tôi. Cái nhìn đôi khi rất gần như áp sát vào tôi rồi đảo quanh tôi.” Rồi bà viết tiếp:” Lúc đó khoảng 3 giờ chiều, trong lúc đang mãi mê vẽ tranh bỗng nhiên tôi nghe như có tiếng động, tiếng động dễ làm cho tôi chú ý vì phát ra trong cái yên lặng mà tôi chưa từng gặp bao giờ. Tiếng động phát ra như từ một vật có cánh lao nhanh về phía tôi. Giật mình, tôi ngẩng lên nhìn thấy ngay một vật quái dị có 2 con mắt bự màu đen, thân hình màu đen và như có đốt. Đặc biệt cơ thể dẹp chứ không no tròn. Tôi đứng sửng nhìn, không kịp bỏ tấm pha trộn màu xuống…”.

Các nhà vật lý học sau khi nghiên cứu rất nhiều trường hợp đã đưa ra kết luận là hầu hết các căn nhà có ma thường có nhiệt độ giảm thiểu. Sự sụt giảm nhiệt độ sẽ diển biến rất nhanh khi có hồn ma xuất hiện mà theo họ có thể là do hồn ma thuộc về âm hơn là dương tính.

Có một điều làm nhiều người thắc mắc là tại sao hồn ma luôn luôn xuất hiện cùng với bộ áo quần đang mặc lúc họ qua đời chớ không phải là áo quần mới khác. Theo Phật giáo thì hồn ma nầy chưa được đầu thai hay chính hồn ma chưa chịu đầu thai. Hình ảnh hồn ma xuất hiện luôn mặc nguyên bộ áo quần củ lúc chết chứng tỏ hồn ma còn ở tình trạng mượn lấy phần dạng thể của thân xác củ chớ chưa nhập vào thân xác khác. Điều nầy xác định là hồn ma chưa được siêu thoát.

Riêng đối với người Việt Nam vì ảnh hưởng rất nhiều ngàn năm của đạo ông bà, đó là sống có nhà còn chết phải có mồ. Cho nên con cháu cố gắng xây cho ông bà cha mẹ những ngôi mộ rất nguy nga đồ sộ để tỏ sự hiếu để đối với người quá cố và cũng để lưu lại cho dòng họ. Thật ra đạo ông bà có mặt tại Việt Nam trước khi đạo Phật du nhập vào vì thế người Việt Nam mặc dù theo đạo Phật vẫn duy trì truyền thống cố hữu của ông bà. Mới đây có một cụ già kể lại câu chuyện là ông cụ đã chết trên hai mươi mấy năm và được chôn cất rất lớn ở ngoại ô tỉnh Quảng Nam, Việt Nam. Mấy lúc gần đây nhà nước muốn dùng đất để xây khách sạn nên con cháu được thông báo phải dời mộ. Vì tất cả gia đình ở Hoa Kỳ nên họ đều đồng ý là hỏa táng hài cốt ông cụ rồi đem qua Mỹ mà thờ. Một ngày nọ bà cụ đang nằm chợt có chuông cửa reng. Bà vội mở đèn ra xem thì mở đèn hai ba lần mà đèn không sáng. Đến khi nhìn kỷ thì bà thấy ông cụ với bộ đồ củ ngày xưa, mặt rất buồn nhìn bà rất lâu rồi biến mất. Tại sao một người chết đã lâu mà còn báo hiện?

Dựa theo đạo ông bà một khi ông bà cha mẹ chết thì con cháu muốn tỏ lòng hiếu để thường xây cho người chết ngôi mộ thật khang trang đồ sộ. Tuy thần thức đã lìa khỏi xác nhưng họ vẫn còn bám vào mộ của mình vì đó là chỗ họ nương tựa. Cho nên họ không muốn đi đầu thai hoặc bỏ lở cơ hội đi tái sinh tức là chưa được siêu thoát. Nếu ai đụng chạm đến ngôi mộ tức là nhà của họ thì dĩ nhiên hồn ma không tha. Vì thế mà đạo Phật khuyên chúng sinh nên hỏa thiêu thân tứ đại để thần thức không có chỗ nương tựa mà dựa theo ánh sáng của chư Phật để được vãng sinh hay tái sinh. Nói tóm lại nếu thần thức được siêu thoát thì sẽ không có hiện tượng hồn ma bóng quế. 

Địa ngục có thật không?   

Theo kinh điển Phật giáo thì địa là chỗ còn ngục là hình phạt đau khổ. Vì thế khi chúng sinh khi còn sinh tiền tạo quá nhiều nghiệp ác thì sau khi chết phải thọ sanh vào chỗ chịu những hình phạt đau khổ thì đó gọi là địa ngục. Cũng theo Phật giáo thì Địa Ngục không phải là cõi giới có 18 tầng với bọn quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa lăm le để trừng phạt con người như người Trung Hoa đã vẽ trong kinh sách. Thật ra Địa Ngục chỉ do Nghiệp Thức biến hiện bởi vì tự thể chính địa ngục cũng chỉ là cái Không. Khi một người chết thì thần thức thoát khỏi thân xác trong một trạng thái mơ hồ, tối tăm mê muội trong khoảng ba, bốn ngày.  
  
Lúc bấy giờ chính thần thức cũng không nghĩ rằng mình đã chết và dĩ nhiên cũng không biết mình sẽ đi về đâu. Những nghiệp thức hiện đến làm cho thần thức cảm nhận những điều ghê sợ. Lúc bấy giờ có một thứ gió Nghiệp (Nghiệp Phong) nhẹ nhàng thổi đến đưa nghiệp thức vào nơi không phương hướng bềnh bồng như một con thuyền không người lái trên đại dương mênh mông. Tiếp theo là những vầng sáng lạ lùng tỏa ra hòa với những âm thanh kỳ lạ mà thần thức chưa từng được nghe thấy như lúc còn sống ở thế gian.  
  
Chưa hết những hình tượng đầy vẻ ma quái rùng rợn của những con vật mình người đầu thú, hung tợn, gầm gừ như muốn nhảy tới phanh thây, nhai  nuốt người chết. Sau cùng là những khối lửa lớn ngùn ngụt phụt lên từ mọi phía cùng với giông tố sấm sét chớp lòa làm cho Thần Thức kinh hoàng. Tất cả những hiện tượng kinh hoàng đó thật ra đều do nghiệp lực mà chiêu cảm nhưng Thần Thức không biết mà tin là thật cũng giống như nếu để một em bé trước một cái TiVi lớn có hình ảnh sấm sét kinh hồn làm cho đứa bé tin là thật mà khóc thét lên. 
  
Vì do nghiệp lực chiêu cảm và Thần Thức vẫn còn mê mờ tăm tối nên nó càng thấy nhiều cảnh tượng kinh hoàng làm cho nó càng sợ hãi và tìm cách trốn tránh bất chấp đó là chỗ nào.  Bây giờ nếu nghiệp cảm của người chết muốn sinh vào cõi địa ngục thì trong thời điểm nầy Thần Thức sẽ thấy một khoảng mờ ảo với âm thanh trầm buồn lặng lẽ. Thần Thức nghĩ rằng đây chính là một nơi yên lành có thể dung thân trong giai đoạn nguy hiểm nên mới dấn thân vào đó.    

Từ đó tất cả những nghiệp thức sẽ phát sinh ra những cảnh giới như nhà cửa, đường xá… Thần thức sẽ thấy những căn nhà có màu sắc đen hay trắng đục và có vẻ mờ ảo lung linh. Còn đường xá thì như chìm dưới lớp sương màu xám tro và thỉnh thoảng lộ ra những đoạn gập gềnh, hang lỗ tối đen. Cảnh vật nơi đây thì vô cùng lạnh lẽo, âm u và vắng lặng và cũng có nơi nóng ran như thiêu đốt. Dần dần Thần thức cảm nhận những sự nóng lạnh rất rõ ràng như khi còn sống ở thế gian.    
 
Nếu người chết bị đọa vào Hỏa ngục thì Thần Thức trước tiên cảm nhận một sự lạnh lẽo ghê hồn xuyên qua Thân Trung Ấm khiến họ mong mỏi có cơ hội thoát khỏi cái lạnh khủng khiếp nầy. Tư tưởng nầy vừa xuất hiện đã làm phát sinh một làn hơi nóng ấm từ đâu đó thoát ra khiến họ vô cùng mừng rở và dĩ nhiên Thần Thức vội vàng tìm đến đó. Thế là họ tức thì rơi vào Hỏa ngục mà chính họ không hay biết gì. Nên nhớ tất cả những cảnh tượng chợt biến chợt hiện đó đều do Nghiệp Cảm tạo thành cho nên khi lòng nghĩ đến điều gì thì hình ảnh liên quan sẽ hiện ra như có thật trước mắt.  
  
Thân Trung Ấm là thân không có xác thịt mà chỉ lấy tư tưởng làm thân nên tất cả đều không thật mà chỉ là giả tướng. Nếu đã là không thật thì không có gì phải khiếp sợ. Người có tu đạo thì họ làm chủ được Thần Thức của mình nên dễ dàng tránh xa những cảm nhận thích nghi với những âm thanh và ánh sáng dễ chịu mà thoát ra khỏi lục đạo. 
  
Nếu lỡ đã sa vào Địa ngục hay chạm trán với quỷ sứ Ma Vương thì cũng chỉ là đối diện với hư ảnh mà thôi. Bởi vì tất cả những hình tượng ấy đều do nghiệp thức biến hiện và tự thể của nó là không thật. Nhưng trong thật tế hầu như tất cả mọi người khi chết đều rung sợ và mê mờ tối tăm trước những hình ảnh hư ảo ở cõi âm. Một lần nữa, kinh điển Phật giáo khẳng định là địa ngục không phải là nơi có các quỷ sứ hiện diện để moi tim, móc ruột, chặt tay, cưa chân hay thả tội hồn vào vạt dầu…Mà Địa Ngục chỉ là nơi tối tăm mà con người khi chết phải vào đó để thọ lãnh những đau khổ mà họ đã tạo tác trong khi còn sinh tiền.    

Nói một cách khác theo tinh thần Phật giáo thì Địa Ngục không có quỷ sứ xử phạt kẻ có tội với những cực hình thê thảm mà thật ra Địa Ngục chính là cõi thế gian mà loài người đang sống. Từng giây, từng phút và từng ngày họ phải thọ báo những đau khổ, những xấu xa, những tội lỗi mà nghiệp báo đã chuyển đến cho họ sau khi họ được tái sinh. Đây chính là Địa Ngục trần gian vậy. Biết bao người hằng ngày phải sống trong thiếu thốn khổ đau. Họ bị đọa đày từ tinh thần đến xác thân thì có phải đây là địa ngục chăng? Trong kiếp quá khứ chúng ta gây nên ác nghiệp nên bây giờ thân phải chịu bệnh tật hiểm nghèo. Có người vì bệnh mà phải chịu mổ xẻ tim, gan, thận, cắt tay, cắt chân, mổ óc…Đây có phải là giống như cảnh chặt tay, cưa chân, móc óc trong cảnh địa ngục chăng? Có người trong tiền kiếp gây ra nghiệp sát hại nên khi qua đến kiếp nầy phải bị sát hại mà tệ hại hơn nữa là bị sát hại ngay khi còn nằm trong bụng mẹ tức là phá thai.  Đây có phải là địa ngục chăng? 
  
Trong cuốn Hồi Dương Nhân Quả của Linh Tự Kỳ và sách Địa Ngục Du Ký xuất bản đời nhà Đường có ghi lại những lời đối thoại của Tế Phật cho một nhân vật tên là Dương Sinh nghe về cảnh giới của địa ngục. Dựa theo sách nầy thì địa ngục gồm có 10 điện chính và mỗi điện có 16 ngục. Sách diễn tả khá rõ ràng về kích thước và cảnh giới của mỗi điện địa ngục. Thêm nữa sách nầy cũng mô tả những gì liên quan đến cõi Diêm phù mà từ lâu trong thế gian thường hay nói đến. Chẳng hạn như cây cầu ở chốn địa ngục mà người Việt Nam hay Trung Hoa thường gọi là cầu Nại Hà. Cầu Nại Hà nầy là một trong 6 cây cầu chính ở địa ngục. Cầu treo lơ lửng trên cao và người chết vào địa ngục thì phải đi qua cầu nầy. Các quỷ sứ có nhiệm vụ áp giải tội hồn đi qua cầu.  
  
Khi tội nhân tới giữa cầu thì các tội hồn nầy sẽ bị quỷ sứ đẩy xuống vực sâu thăm thẳm. Nơi đó vô cùng tối tăm lạnh lẽo và đầy rắn độc. Còn những kẻ ác ở thế gian khi chết đi qua cầu nầy tự nhiên tâm thức kinh động nên tự nhào xuống vực chớ không cần quỷ sứ xô xuống. Khi xuống đến địa ngục thì có 18 tầng và còn thêm 16 tiểu ngục nữa để trừng phạt tội hồn. Có lẻ tất cả đều là do óc tưởng tượng của người Trung Hoa vì có ai xuống được địa ngục rồi trở về để ghi chép quá chi tiết như thế bao giờ? Nằm mơ, nằm mộng kể lại thì ai nói gì chẳng được. Đạo Phật là đạo giải thoát mà cứ ôm khư khư những tư tưởng kinh hồn, khiếp vía ràng buộc cứng ngắt như thế thì làm sao giải thoát cho được.  
  
Riêng đối với các nhà khoa học thì quan niệm về Địa Ngục quả là một quan niệm chứa đầy tính chất siêu hình. Khó có ai thấy được rõ ràng trước mắt cõi Địa ngục và khó có ai chụp được hình ảnh của cõi Địa ngục. Cho đến nay, những nhà nghiên cứu về các hiện tượng siêu linh huyền bí cũng chỉ ở giai đoạn thu thập các tư liệu liên quan đến những gì gọi là cõi giới bên kia cửa tử mà chúng ta gọi là Địa ngục mà thôi.  
  
Còn thế nào là Thân Trung Ấm?  

Thân Trung Ấm (intermediate state) có thể được giải thích như là sự sống sau khi chết trước khi thần thức của người ấy đi tái sinh vào một trong Lục đạo Luân hồi (cõi trời, làm người trở lại, A ta la, sa vào địa ngục, vào cõi ngạ quỷ, hoặc làm kiếp súc sanh). Thân trung ấm là thân không có xác thịt mà chỉ lấy tư tưởng làm thân. Sau khi con người chết, thì thần thức thoát ra khỏi xác và lưu lại ở một thế giới trung gian trong khoảng từ một đến bảy tuần lễ, rồi sau đó tùy theo nghiệp lực của mình mà đi tái sanh. Nếu trong thời gian nầy, thân trung ấm chưa tìm thấy một nơi tương ứng với mình để tái sinh thì nó lại chết đi sau mỗi bảy ngày. Sau đó thần thức được chuyển qua một thân trung ấm khác, chu kỳ sinh diệt nầy cứ lập lại cho đến khi thần thức được đi tái sanh. 
 
Trong thời gian ở lại trong cõi trung ấm nầy, vào những ngày đầu, thì vong linh chưa nhận ra mình đã chết. Thần thức quay trở lại gia đình để gặp lại những người thân nhưng không ai biết. Họ hỏi thăm từng người nhưng không ai trả lời. Họ cố gắng sinh hoạt trở lại bình thường như lúc còn sống nhưng không thể được, cho đến khi họ phát hiện là bóng hình của họ không in trên đất và cũng không còn phản chiếu trên gương thì lúc đó họ mới nhận ra là mình đã chết. Từ đây, họ lần lượt nhớ lại tất cả những nghiệp thiện ác mà họ đã tạo ra khi họ còn sống. Tất cả những cảnh tượng hạnh phúc hay khổ đau đều hiện ra trước mắt họ như một cuộn phim ghi lại suốt cuộc đời của họ.   

Nếu vong linh là người từng tạo phước, tu tâm dưỡng tánh, thì sẽ có những cảm giác yên bình, thanh thản và dễ dàng để tìm đường tái sanh vào cõi lành. Còn nếu người đã từng tạo ra nhiều ác nghiệp, thì họ sẽ đối diện với những cảnh tượng khổ đau, kinh hoàng, sợ hãi, thất vọng và chán chường. Họ lang thang một cách tuyệt vọng trong cõi trung ấm và muốn tìm một thân xác để tái sinh tương xứng với nghiệp lực của họ. Nếu thân trung ấm có tu tập và làm chủ được thần thức của mình, thì người ấy được chọn cho mình một cảnh giới tốt để tái sinh. Trái lại, những người có ác nghiệp thì bị bắt buộc phải thọ sinh vào một cảnh giới thích hợp với nghiệp lực của họ cho dù họ có muốn hay không. 

Vậy thế nào là Tái Sinh?    

Nếu được tái sinh trở lại cõi người, thì thần thức của người ấy thấy cha mẹ tương lai của mình đang ăn nằm với nhau. Khi thần thức có sự giao động thì đây là điểm bắt đầu chấm dứt thân trung ấm của họ. Cái thời điểm mà Thân Trung Ấm tan biến chính là lúc tinh trùng của người cha lọt vào noãn bào của người mẹ. Giây phút thiêng liêng nầy cái Ngã cũ đã hết nên thần thức của người chết không còn nhớ minh là ai nữa. Vì thế khi mang một hình hài mới, dòng họ mới và số phận mới thì tất cả những chuyện về đời trước đã quên hết. Thần thức được chuyển qua đời sống kế tiếp bằng cách nhập vào bào thai của người mẹ và bắt đầu với hình dáng của một con người. Khi ấy tinh cha và huyết mẹ được kết hợp với thần thức của người ấy. Họ tự nhiên và dần dần phát triển thành một con người. Nói tóm lại, khi đến ngày gần tái sinh, thần thức của người ấy bị lôi kéo về nơi tái sinh tương lai, thậm chí nơi ấy là địa ngục.    

Chẳng hạn như thần thức của một anh đồ tể đang nhìn thấy một con bò đang đi. Anh ta muốn đuổi bắt và giết chết nó, nhưng anh ta thấy bóng con bò xuất hiện càng lúc càng xa làm cho anh ta khởi tâm giận dữ. Chính cơn giận nầy đã kết liễu thân trung ấm của anh ta và thần thức của anh ta bị rơi vào địa ngục tức thì. Nên nhớ rằng sự chuyển tiếp của thần thức từ đời nầy sang đời khác là do nghiệp lực mà ra.
Ngạ Quỷ Có Thật Không? 
  
 Quỷ là những thần thức có nhiều tham vọng, oan tức và nuối tiếc khi chết. Trong bộ kinh Ngã quỷ kinh giải (Petakkathà) nói về 24 thứ Ngạ quỷ: 

1)   Ngạ quỷ Vantàsà: Đây là thứ ngạ quỷ đói khác, khổ đau. Nó xuất hiện ở đâu thì thối tha tới đó. Hễ nghe ai khạc nhổ là nó chạy lại liếm láp cho đỡ đói.
   
2)   Ngạ quỷ Kunapà: Là loại ngạ quỷ chuyên tìm các tử thi để ăn vì quá đói nên đây cũng là loại quỷ thối tha. Mặc dầu đã ăn nhưng nó vẫn không thỏa mãn vì càng ăn càng đói. 

3)   Ngạ quỷ Gùthakhad: Loại quỷ đói nầy thường xuất hiện ở những nơi hôi hám như cầu tiêu công cộng và những chỗ phế thải đồ dơ đã bốc mùi khó ngữi. 

4)   Ngạ quỷ Aggijàla: Da thị lở lói khắp thân thể cùng với lửa cháy trên mặt da đến bốc khói. Chúng thường hiện ra ở núi rừng gần mé biển hay cồn, bãi. 
  
5)   Ngạ quỷ Sucimukha: Miệng dài nhọn như ống hút, thân mình đầy rong riêu và chất dơ bẩn. Suốt đời làm quỉ đói khát không cùng. Loại quỷ nầy thường xuất hiện chập chờn nơi rừng sâu núi thẳm khiến nhiều người lầm tưởng là người rừng. 

6)   Ngạ quỷ Khanhaji: Loại nầy mình cũng đầy long lá và chịu đói khát nghiệt ngã luôn luôn. Lại còn bị ảo tưởng dày vò. Khi ở xa thì thấy có nước để uống mà chạy lại gần thì không có gì. Thấy thức ăn thì chạy lại nhưng tất cả chỉ là đá với lửa. 
  
7)   Ngạ quỷ Nijjhà: Loại ngạ quỷ nầy có những điểm đặc biệt như tay chân chỉ có một ngón, môi xệ và từ miệng mọc ra một cái đuôi dài.   
 
8)   Ngạ quỷ Sabbakà: Thân mình đầy vết xây xát lở lói đến hôi thúi và tay chân có móng nhọn moi móc thịt sình thối để ăn. 
  
9)   Ngạ quỷ Pabbankhà: Loại nầy có thân hình to lớn và trên da thịt luôn luôn bôc lửa làm quỷ đau đớn vô cùng. Quỷ nầy thường xuất hiện ở núi Kỳ-Xà-Quật và Tuyết lãnh sơn. 

10)  Ngạ quỷ Ajagara: Thân hình giống con rắn lớn có nhiều đầu và các đầu thường thay đổi, khi thì đầu người khi thì đầu loài thú. Quỷ nầy xuất hiện nơi cồn, bãi. 
  
11)  Ngạ quỷ Vemànika: Đây là thứ quỷ vô thường về tánh khí, vui buồn, hung dữ lẫn lộn. Tay luôn luôn cầm khí giới nên thường được gọi là Diêm Vương (Yamarãja). 

12)  Ngạ quỷ Mahiddhika: Dạng thể chững chạc, gọn gàng, có áo quần đàng hoàng. Tuy nhiên là quỷ đói thường đi tìm thức ăn thừa nên cơ thể tỏa ra mùi hôi thối. 

13) Ngạ quỷ Sociluma: Loại quỷ nầy thì khắp người long tóc tua tủa những kim đâm qua da thịt khiến loang lổ đầy máu làm quỷ than khóc thảm thiết vì đau đớn. Quỷ nầy thường trôi nổi bình bồng ở hư không gần núi Kỳ-Xà-Quật. 

14) Ngạ quỷ Kumbhanda: Loại quỷ nầy có đôi ngọc hành sưng lớn đau nhức không thể ngồi được nên phải vác lên vai để đi. 

15) Ngạ quỷ Ahi: Có mình rắn đầu người rất to lớn và thường bị lửa cháy quanh thân mình nên rất đau đớn. Thường xuất hiện nơi rừng núi. 

16) Ngạ quỷ Nicchavi: Thân thể tiều tụy, lại còn bị các loài chim kên kên bay đến mổ thịt. Quỷ nầy cũng ở gần vùng núi Kỳ-Xà-Quật và thường lơ lửng trên không. 

17) Ngạ quỷ Nimugga: Da thịt thối tha ghê tởm chuyên ăn phân người và súc vật nên bụng luôn luôn sình lên đến khủng khiếp. 

18) Ngạ quỷ Sùkara: Miệng có đuôi thú mọc ra và ăn uống không được nên đói khác và đau khổ vô cùng.

19)Ngạ quỷ Manguli: Trông vô cùng ghê tởm, lưng gù, bụng lớn và thường bị các loài chim dữ bay theo rỉa thịt nên vô cùng khổ sở. 
 
20)Ngạ quỷ Chàtaka Mới nhìn như bộ xương khô và đây là loài quỷ đói thường rên xiết than khóc. 

21)Ngạ quỷ Kukkutha: Chân cẳng xiêu vẹo, đầu tròn nhẵn, mắt lồi, bụng lớn. Thường cầm búa đập đầu nhau làm máu me đầy mình. Lại lấy lửa đốt cháy da thịt nên phải phát tiếng kêu khóc đến rợn người. 

22)Ngạ quỷ Asĩsa: Có thân hình vô cùng khủng khiếp và cũng thường phát tiếng rên la kỳ lạ trong đêm khuya khiến người nghe phải rung mình. 

23)Ngạ quỷ Satthikùtà: Đây còn gọi là ngạ quỷ thọ hình. Luôn luôn trên đầu quỷ nầy có nghiều cái búa chuyển động lên xuống nhắm đập vào khiến máu me đầm đìa trông rất ghê sợ. 

24) Ngạ quỷ Pabbajita: Quỷ nầy mặc áo nhà tu nhưng khắp thân mình có lửa cháy khiến quỷ đau xót phát tiếng kêu la rất rùng rợn. 

Ngày xưa Tôn giả Mục Kiền Liên vì nhờ chứng đắc được lục đại thần thông mà thấy được một số ngạ quỷ như sau: 

1. Ngạ quỷ Atthisankhalika: Chỉ có da bọc xương.
2.  Ngạ quỷ Maimsapesĩ: Thân hình cũng giống như một đống thịt bầy nhầy bốc mùi hôi thối  nồng nặc.
3.  Ngạ quỷ Mansapinda: Thân hình cũng giống một cục thịt nhầy nhụa.
4.  Ngạ quỷ Asiloma: Thân hình có những lông lá trông tựa như những lưỡi dao đâm vào da thịt.
5. Ngạ quỷ Okilima: Luôn luôn bị lửa và than đỏ từ trên dội xuống thân mình khiến quỷ vô cùng đau đớn kêu than thảm thiết.
6.  Ngã quỷ Asisakabandha: Thân hình giống tử thi không đầu. 
  
Đây là những loài ngạ quỷ trong cõi giới vô hình và chúng thường xuất hiện trong cõi giới hữu hình của loài người chúng ta. Nhưng thông thường thì người đời không thấy chúng được chỉ có những bậc tu hành chứng đắc, thần thông quảng đại thì thấy chúng rất rõ ràng.  
  
Tùy theo dục vọng riêng tư mà những loài ma quỷ thường tụ tập quanh các nơi thích ứng và dĩ nhiên người cõi trần không nhìn thấy chúng được. Những loài ma đói khát quanh quẩn ở những nơi trà đình tửu quán, các nơi mổ xẻ thú vật để tìm cách rung động theo những khoái lạc vật chất tại đây. Chẳng hạn như một người đang ăn uống rất ngon thì họ có những rung động, khoái lạc mà loài ma quỷ cũng cũng tìm cách hưởng thụ theo tư tưởng nầy. Những loài ma dục tình thì quanh quẩn những nơi buôn hương bán phấn để rung động theo những khoái lạc của người chốn đó và đôi khi tìm cách ảnh hưởng họ.  
  
Nếu người sống đang uống rượu say thì trong thời điểm say sưa họ không còn tự chủ được nửa thì loài ma tìm cách nhập vào trong thoáng giây để hưởng một chút khoái lạc vật chất dư thừa. Các loài ma hung dữ, khát máu thường tự tập nơi mổ xẻ súc vật, các lò sát sinh để rung động theo những không khí thô bạo ở đó. Những người giết hại súc vật trong nhà vô tình họ đã mời gọi các vong linh nầy đến và sự có mặt của chúng nó có thể gây nhiều ảnh hưởng xấu nhất là những người dễ thụ cảm. 
Người chết bất đắc kỳ tử thường lưu lại cõi âm lâu hơn người chết già vì còn nhiều ham muốn hơn. Những kẻ sát nhân bị hành quyết vẫn sống trong cảnh tù tội, giận hờn và có ý định trả thù. Còn những người tự tử để trốn nợ đời thì thân thức sẽ bị hôn mê trong trạng thái khổ sở rất lâu như lúc mới tự tử. Vì thế mà định luật cõi âm xác định rằng:”Chính cái dục vọng của ta quyết định cảnh giới mà ta sẽ đến và lưu lại ở đó lâu hay mau”.  
 Người chết có thấy người sống được không? 
 
Khi chết, tất cả các quan của thân vật chất tan rả nên không sử dụng được nữa, nhưng người chết vẫn theo dõi tất cả mọi sự rất dễ dàng nhờ các tư tưởng giác quan trong Thân Trung Ấm. Vì bây giờ họ không còn bị ngăn ngại bởi thân vật chất nên thân tư tưởng rất dễ cảm nhận. Họ biết rõ tư tưởng, tình cảm và những liên hệ chung quanh mặc dù họ không nghe, thấy như chúng ta. Nhờ đọc được tư tưởng của người sống nên họ vẫn hiểu rất rõ ràng điều chúng ta muốn diễn tả. 

Vậy có cách nào người sống có thể tiếp xúc được với thân nhân quá cố ở cõi âm chăng? Thật ra sự chết là bước vào đời sống mới và hòa nhập vào một thế giới tương ứng với nghiệp lực của mình. Khi mới từ trần, người chết luôn quanh quẩn bên gia đình, bên người thân, nhưng theo thời gian khi ý thức được hoàn cảnh mới họ sẽ tách rời các ràng buộc gia đình mà thọ sinh vào cảnh giới tương ứng với nghiệp thức của họ. Do đó trong thời gian đầu, thân nhân có thể nghĩ đến họ trong giấc ngủ vì đây là một cách truyền giao cách cảm nhạy bén nhất. Cõi âm là cõi của tư tưởng cho nên chỉ cần nghĩ đến nhau là đã gặp nhau rồi. Nhưng chúng ta không nên quấy rầy họ vì làm như thế chỉ gây trở ngại cho việc siêu thoát của họ mà thôi.   
 
Ngoài ra cõi âm là một thế giới lạ lùng, phức tạp với những định luật thiên nhiên khác hẳn cõi trần. Một số thầy phù thủy, những người cầu cơ, những người luyện thiên linh cái, bùa ngải…thường liên lạc với những vong linh hung ác, dữ tợn, cô đơn…để mưu cầu lợi lộc, chửa bệnh, trù ếm, thư phù…Một thầy phù thủy sau khi niệm thần chú có thể sai khiến âm binh che chở giúp cho người đó nằm trên lưởi dao thật bén mà không hề hấn gì hay ông ta ném toàn bó nhang trên sân xi măng mà các cây nhang vẫn đứng thẳng. Những người luyện thiên linh cái có thể sai khiến vong linh đến nhà người nầy, người nọ quan sát rồi về mach bảo cho họ cho nên họ nói cái gì cũng đúng cả. Đôi khi họ sai vong linh đi tìm chồng, kiếm vợ về…Nhưng về lại tại ma bảo về chớ thật tâm người đó có muốn về đâu do đó còn cầu vong linh thì còn hạnh phúc hết cầu thì hạnh phúc cũng bay theo. Vì thế cuộc sống của những người nầy phải tùy thuộc vào ma quỷ nên tâm trí thiếu sáng suốt và sống trong phập phồng lo sợ. 
  
 
Nên nhớ những việc gì có tính cách phản thiên nhiên, ngược luật tạo hóa đều mang lại hậu quả không tốt. Mặc dù những vong linh nầy nhất thời có thể mang lại cho họ rất nhiều lợi lộc cá nhân, nhưng chúng là những vong linh rất nguy hiểm, hay phản phúc nên thường giết chết kẻ lợi dụng chúng bất cứ lúc nào.  
 
Phật giáo khuyên chúng sinh nên tin sâu vào luật Nhân Quả và sống dựa theo Chánh đạo thì còn sợ gì. Có gieo nhân lành thì chắc chắn sẽ gặp quả tốt, ngược lại tạo nhân ác thì trước sau tự mình phải lãnh chịu quả khổ mà thôi. Các hồn ma quỷ nầy không thể tự cứu chúng được thì làm sao chúng giúp được ai? Phải gạt bỏ tất cả những tà kiến nầy ra khỏi tâm thức để tâm được thanh tịnh mà sống đời an vui tự tại. Nên nhớ tất cả những nổi khổ vui mà con người nhận chịu trong đời nầy là cái quả mà chúng ta đã tạo tác từ bao đời quá khứ cho nên cái khổ có đến cũng chính là chúng ta đã trả xong một món nợ rồi. Trả xong thì hết khổ, hết bận lòng.  
  
Những ác nghiệp gì để phải chịu sanh vào cõi ngạ quỷ đói khác? 
Những ác nghiệp mà con người thường gây ra khi còn sống trong thế gian thì rất nhiều chẳng hạn như: những kẻ giết hại súc vật quá nhiều trong đời. Những kẻ tra khảo, đánh đập, tàn sát đồng loại. Những kẻ dùng quyền lực ra lệnh giết quá nhiều người. Những người ăn chận tiền cúng cấp, trợ cấp cho người nghèo khổ, nạn nhân chiến tranh hoặc thiên tai bảo lụt. Những kẻ hãm hiếp đàn bà con gái và làm chuyện vô luân. Những kẻ lập mưu phao vu hãm hại người khác. Những kẻ tham tàn, ăn chơi sa đọa bất kể vợ con, gia đình, cha mẹ. Những kẻ cười đùa, sảng khoái trên những đau khổ bất hạnh của kẻ khác…Vì ác nghiệp đã gây ra trong nhiều kiếp nên ngạ quỷ phải chịu khổ sở đói khác rất nhiều đời. Có khi đến 10 kiếp hay 100 kiếp hoặc 500 kiếp mới thoát ra khỏi cảnh ngạ quỷ nầy. Khi làm phước điền thì con người nên hồi hướng công đức và phước đức đến thân nhân đã quá vãng thì cũng giải được nhiều kiếp luân hồi của họ bằng câu kệ Pali như sau:
 
Idam vo nãtinam hotu sukhita hontu nãtayo.
Nghĩa là: Xin hồi hướng đến thân quyến đã quá vãng, cầu xin các vị ấy hưỡng được sự an vui.
        
Ngoài Lục đạo Luân hồi ra, trong kinh Kim Cang Đức Phật còn nói thêm về Tứ sanh. 
Đó là:
1.   Noãn sanh: Là người đời trước vì kế sinh nhai mà tâm hay sắp đặt mưu mô xảo trá lừa gạt, nên đọa làm noãn sanh như các loài chim cá…Người tham kế cao thì làm chim, thấy người thì bay cao. Người mưu sâu thì làm cá, gặp người thì lặn xuống. 
  
 2.   Thai sanh: Người nầy đời trước tham đắm dâm dục nên đọa thai sanh như người, dê, heo, hoặc những thú có vú đẻ con như trâu, bò, ngựa, mèo, chó. Tội tham dâm sanh làm người thì được đứng thẳng, nếu lòng ngang ngược, tham dục không có tiết độ thì sanh làm thú đi ngang bốn cẳng. 
 
3.   Thấp sanh: Người nầy đời trước tham ăn rượu thịt làm việc vui chơi, đánh lộn giữa chợ, loạn tâm điên đảo, nên đọa làm thấp sanh là loài cua, tôm, rùa, trạch… 
  4.   Hóa sanh: Người nầy đời trước hay đổi dời, ý niệm khác thường, trước mặt nói phải, sau lưng nói quấy, làm nhiều tội ác, nên đọa hóa sanh như loài ve, bướm, muỗi, ruồi… 
  
  Phật dạy rằng trong lục đạo tứ sanh thì chỉ có con người là quý trọng, vì chỉ con người mới có tánh linh. 
Nhưng có người thắc mắc là người và thú vật hoàn toàn khác nhau, thì làm sao người có thể tái sanh thành súc vật và thú vật thành người được? 
  
 
Xin thưa rằng: con người ta thường hay có quan niệm sai lầm là người có linh hồn người còn chó có linh hồn của chó, và linh hồn người hay linh hồn chó đều bất biến (không thay đổi ) cho dù chết hay còn sống. Nhưng đúng ra, nghiệp căn không phải là linh hồn mà là một năng lực do các hoạt động của Thân và Tâm sinh ra, và khi chết chúng sẽ phát sinh ra những hiện tượng tâm linh và thể chất mới. Do đó, thay vì nói người trở thành thú vật hoặc thú vật trở thành người, thì chúng ta có thể nói nghiệp lực phát triển dưới hình thể người hay dưới hình thể súc vật. 
  
 Có người lại thắc mắc là khi chết rồi. một người thì chỉ sanh một người thôi, tại sao trên thế giới nầy mỗi ngày nhân loại lại thêm đông? 
  
Xin thưa rằng: chúng ta thấy trong lục đạo luân hồi có 6 cõi, do đó con người cũng như súc vật thay phiên nhau đầu thai lúc lên, lúc xuống, biến từ thế giới này qua thế giới khác, chứ không nhất thiết chỉ có con người mới được đầu thai làm người. 
  
Thêm nữa, trong kinh Phật có nói là thế giới trong vũ trụ thì hằng hà sa số như cát sông Hằng, chứ đâu chỉ có trái đất nầy là trung tâm vũ trụ đâu. Vũ trụ thì biến đổi không ngừng, nay sinh hành tinh này, mai hành tinh khác chết, nhưng tất cả cũng chỉ quy vào trong luật luân hồi. Còn chúng sinh thì không nhất thiết chỉ có tại quả đất nầy mà chúng sinh hiện hữu khắp mọi nơi trong vũ trụ. Tại sao mà chúng ta biết chắc như vậy? Vì trong kinh Phật nói rằng: Phật thì hằng hà sa số ở khắp mười phương và họ thì lúc nào cũng đi hóa độ chúng sinh trong muôn vạn thế giới chứ không tự tại ở nơi Cực lạc trong khi chúng sinh còn đang lặn hụp trong biển trầm luân. 
  
Sau khi hiểu rõ lục đạo luân hồi rồi, thì chúng ta đểu đồng ý rằng luân hồi là sự trừng phạt ghê gớm. Nếu chúng ta để tham, sân, si  tạo ra nhiều ác nghiệp thì chắc chắn tương lai hậu vận của mình sẽ vô cùng âm u đen tối.  Nhưng một khi chúng ta đã nắm chắc giáo lý luân hồi thì chính mình phải cố gắng sống một cuộc đời đạo đức, lìa xa tội lỗi, tâm tư hướng thiện, và phải tự tin chính mình là chủ nhân của đời mình. Hể mình tạo nghiệp nhân gì thì mình phải chịu quả nghiệp ấy chứ không ai có thể cầm cân thưởng phạt, ban phước, giáng họa cho mình cả. 
  
Nên nhớ tu hành là phải chinh phục nơi tâm mình, và phải dẹp bỏ vọng tưởng. Nếu chúng ta nhận lầm vọng tưởng là tâm mình thì cái vọng tưởng này sẽ dẫn chúng ta chạy ngược chạy xuôi không biết bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp. Nói một cách khác Tâm vọng tưởng là ý nghiệp, là động cơ dẫn dắt chúng ta đi trong vòng luân hồi sanh tử. Ngày nào dứt được nghiệp thì vòng sanh tử cũng theo đó mà ngừng. Cũng như chiếc xe mà  hết xăng thì máy có còn chạy được nữa không! 
  
Giáo lý luân hồi là một liều thuốc nhiệm màu giúp tẩy sạch mọi nhân ác của tiền căn hậu kiếp để đưa con người thoát ta khỏi vòng luân hồi sanh tử và đạt đến cảnh giới tốt đẹp, an lành bất sanh bất diệt của A-la-hán, Bồ tát, hay Phật.

15. Sự Thờ Cúng và Lễ Bái

Cuộc sống của gia đình chúng tôi thì cũng chẳng khác chi mọi gia đình tỵ nạn khác trên đất nước mới này. Ngày ngày thì phải lo đi cày, tối về thì lo cho con cái và ngày qua tháng lại cũng không có nhiều thì giờ rảnh rỗi để đi chùa bái Phật. Chúng tôi cũng cố gắng đến chùa trong những lễ lớn để cầu nguyện Phật trời cho được nhiều phước lành. Thú thật cứ mỗi lần đi chùa là chúng tôi cầu nguyện đủ thứ từ gia đình mạnh khỏe, làm ăn phát đạt, con cháu học hành tiến bộ. Tất cả những gì có lợi cho mình là chúng tôi cầu nguyện hết. 
         
Bây giờ hãy suy nghiệm lại những lời cầu nguyện trên có thực sự hiệu quả như thế trong đời sống của chúng ta không?
         
Nhưng trước hết hãy tìm hiểu ý nghĩa của chữ cầu nguyện. Trong thế giới của những tôn giáo tin tưởng và thờ phượng Thượng đế ( là Đấng tối cao, toàn năng, toàn thiện, toàn trí đã sáng tạo ra thế gian, vũ trụ, và được xem là thủy tổ của muôn loài), thì cầu nguyện có nghĩa là thỉnh cầu ở nơi Ngài một sự chỉ đạo, hộ trì, hoặc cầu xin Ngài ban cho sức khỏe, hạnh phúc, cơm no, áo ấm, và đôi khi xin Ngài tha thứ những tội lỗi đã vi phạm. 
         
Nhưng trong Phật giáo không có vấn đề tội lỗi (hiểu theo nghĩa xúc phạm ý trời). Khi một người hành động phi luân lý hay phản đạo đức, thì Phật giáo gọi đó là hành động không khôn ngoan hay bất thiện. Sở dĩ có hành động sai lầm hay bất cẩn là vì si mê, thiếu sáng suốt, nhưng tôn giáo thờ phượng Thượng đế thì xem đó là có tội một khi vi phạm hay bất tuân những điều răn do vị giáo chủ hay trời phán định. Trái lại, theo giáo lý nhà Phật dù là Phật tử hay không mà trộm cắp, tà dâm, dối trá… thì đó là hành động sai lầm, bất thiện vì chính họ đã tạo ra cái nghiệp xấu cho mình và dĩ nhiên là họ sẽ tự chuốc lấy kết quả xấu xa hay nghiệp báo đau thương sau nầy. Chẳng hạn như một kẻ ngu si đưa tay vào lửa thì dĩ nhiên là bị phỏng chứ không phải là tội lỗi hay xúc phạm trời thần gì cả. Những hành động không khôn ngoan, sai lầm, hay bất cẩn này sẽ làm trì trệ tiến trình giải thoát của họ mà thôi.
            
Theo Phật giáo, tất cả những hành động mang tánh chất cố ý đều gọi là nghiệp mà nó được phát xuất từ Thân, Khẩu, Ý.  Mỗi người phải chịu trách nhiệm về kết quả của những hành động thiện hay ác này dù kết quả đó tốt hay xấu, vui hay khổ. Như vậy, không có vấn đề cầu nguyện trong Phật giáo theo ý nghĩa thông thường tức là cầu xin Thượng đế ban ơn, tha tội, vì mọi người phải chịu trách nhiệm với chính mình chứ không ai khác về những hành động tội, phước, lành, dữ do mình tạo ra.
          Theo Đạo Phật, thì con người là Thượng đế của chính mình chứ không ai khác bởi vì tất cả các điều kiện, kể cả nghiệp đều có thể tự mình sửa đổi được. Bởi thế, hạnh phúc hay khổ đau đều do chính chúng ta tự tạo lấy cho mình. Hay nói một cách khác được tự do hay nô lệ tùy thuộc ở chỗ con người làm chủ các điều kiện hay bị các điêu kiện làm chủ. Thêm nữa, những tín đồ thờ thần linh cầu xin được ban phước hay cứu rỗi, nghĩa là đời đời họ muốn lệ thuộc vào vị thần linh hay Thượng đế của họ. Người Phật tử thì trái lại, chúng ta kính cẩn tôn thờ Đức Phật chỉ vì Ngài là người đã đi trước, là người hướng đạo. Và với tinh thần bình đẳng Đức Phật lúc nào cũng khuyến khích chúng sinh cố gắng diệt trừ vô minh để cắt đứt dây luân hồi sanh tử mà chứng được Niết Bàn.
           
Một thí dụ điển hình nữa là chúng ta hãy tạm so sánh giữa hai chế độ dân chủ ngày nay và quân chủ ngày xưa. Trong chế độ quân chủ ngày xưa, mọi người dân là con cái hoặc nô lệ của vị Đế vương. Họ phải tuân phục mọi phán xét, thưởng phạt của vua và vì thế mới có câu:”Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung”. Nhưng chúng ta đang sống trong chế độ dân chủ ngày nay,người dân có quyền bình đẳng, cho dù Tổng thống cũng là một công dân như bao người khác. Chúng ta kính trọng vị nguyên thủ quốc gia bởi vì vị nầy thay thế chúng ta để lãnh đạo, để lo việc nước, làm ích quốc lợi dân. Và tất cả mọi người dân đều có thể trở thành nhà lãnh đạo nếu họ có đủ tài, đủ đức.
         
Trước khi nhập diệt, Đức Phật còn nhắc nhở chúng tăng là:
          “Sau khi Như Lai tịch diệt, các con hãy lấy giới luật làm thầy. Thực hiện đứng đắn những lời giáo huấn của Như Lai, Đó là cách cúng dường Như Lai cao thượng nhất”. 
         
Đức Phật cũng dạy rằng:” Lễ bái tượng Phật không có nghĩa là chúng ta tin rằng Đức Phật sau khi nhập diệt vẫn còn hiện diện trên thế gian để thị hiện trong các pho tượng khiến cho các pho tượng này trở nên linh ứng để có thể hộ trì cho những người lễ bái hay quở phạt những người bất tôn kính đối với Ngài”.
         
Hình tượng chỉ để nhắc nhở lại những hình ảnh sống động lúc Đức Phật còn tại thế, khiến cho chúng ta có cảm tưởng được đối diện với chính Đức thế Tôn mà thôi.
           
Như thế, việc thờ cúng tụng niệm của người Phật tử không phải là để cầu xin Đức Phật cứu vớt mà chỉ có mục đích tôn kính Đức Phật và tự nguyện noi gương Ngài để hoàn thành sứ mạng tự giác và giác tha.
         
Chính Đức Phật đã đặt ra năm pháp để nhắc nhở chúng ta  hằng ngày siêng năng tu tập để đạt thành chánh quả như Ngài và mỗi pháp có một ý nghĩa cao thâm của riêng nó:
              
Hương (nhang): tượng trưng cho mùi hương thơm thanh khiết của hoa sen ngàn cánh.
              
Hoa: tượng trưng cho hoa sen ngàn cánh và cũng tượng trưng cho tâm Bồ đề của chúng ta. Vì mỗi người tu hành đều có một hoa sen ngàn cánh trong ao báu ở trên cõi Phật. Kẻ nào tu niệm càng nhiều thì hoa sen càng lớn, phẩm Phật càng cao.
               Quả: tượng trưng cho quả vị Phật, bởi vì sự tu hành của chúng ta phải cố gắng đạt đến thành quả viên mãn.
              
Đèn: tượng trưng cho trí tuệ bát nhả của chúng ta. Dùng trí tuệ để phá si mê và cúng dùng trí tuệ để phân biệt đâu là chánh, đâu là tà, đâu là chân, đâu là giả.
              
Nước: tượng trưng cho tâm thanh tịnh, tinh khiết,và không bị ô nhiễm. Nước cũng còn tượng trưng cho tấm long từ bi vô bờ vô bến.

Dâng hoa cúng đến Phật đà 
Nguyện mau giải thoát sinh già khổ đau.
         
Do đó chúng ta phải cố gắng nghe theo lời dạy của Đức Phật để tu hành ngỏ hầu tự độ và độ tha thì cũng như đã cúng dường cho chư Phật rồi vậy.
         
Đối với Đức Phật thì Ngài không cần chúng ta quỳ gối bái lạy để vinh danh Ngài mà Ngài chỉ muốn chúng ta cung kính Ngài như cung kính chính bản thân của chúng ta. Vì sự cung kính này, chúng ta bái lạy Ngài với một tấm lòng chân thật và quyết tâm noi gương Ngài cố gắng tu sửa để dứt trừ vô minh vọng tưởng và đạt cho được chơn tâm thanh tịnh.
 
Tâm thức của con người bị hôn loạn đã lâu, không thể một lúc mà an định. Cho nên người niệm Phật nếu tâm không thanh tịnh thì đừng quá vội lo, chỉ cần khi niệm mỗi chữ mỗi câu đều do nơi tâm phát ra, dụng công bên lâu sẽ có hiệu quả. 

16. Nhân Quả 
(Law of Cause and Effect)

Mọi biến đổi của vạn vật trong vũ trụ nầy đều nằm trong một quy luật chung  và quy luật nầy là sự giải tỏa mọi sự ưu tư, thắc mắc cho tất cả những điều kiện hiện sinh trong cuộc sống của chúng ta.
          
Vì thấy chúng sinh còn đang lặn hụp trong vòng mê mưội, Đức Phật đã phát huy ra luật nhân quả để chỉ cho chúng ta hiểu rõ từ căn cơ, ngọn nguồn sự tuần hành, biến dịch của vạn vật và vũ trụ.
         
Vậy thế nào là nhân quả?
Nhân là nguyên nhân, còn quả là kết quả. Nhân là cái mầm, Quả là cái trái mà phát sinh ra bởi từ cái mầm. Bởi thế, Nhân và Quả gắn liền với nhau như hình với bóng. Hãy có nhân là có quả và ngược lại nếu có quả thì phải có nhân.
         
Vì có sự tương đồng giữa nhân và quả, nên chúng ta thấy rằng hể nhân như thế nào thì quả như thế ấy. Nếu ta gieo đậu thì chúng ta sẽ gặt đậu còn nếu ta trồng xoài thì chắc chắn ta sẽ được xoài chứ không bao giờ chúng ta trồng mía mà đạt được khoai. Nói một cách khác, nhân và quả bao giờ cũng cùng một loại với nhau, nhưng hể nhân đổi thì quả cũng đổi theo.
         
Bây giờ chúng ta tự hỏi là hạt lúa tự nó có thể sinh ra cây lúa không? Lý do hạt lúa có thể phát triển để trở thánh cây lúa là vì hạt lúa được sự cấp dưỡng và hấp thụ bởi những điều kiện chung quanh như không khí, ánh sáng, đất nước...chứ tự nó không thể phát triển thành cây lúa được. Điều này cho thấy một nhân không thể nào sinh ra quả nếu không có sự giúp đở của nhiều nhân khác. Do đó mọi sự vật trong vũ trụ này đều là sự tổ hợp của nhiều nhân duyên.
          
Khi ta gọi một vật là nhân, có nghĩa là nó chưa biến chuyển hình thành ra cái quả còn một vật mà ta gọi là quả thì nó đã biến chuyển hình thành ra trạng thái mà ta mong muốn. Do đó, chính trong cái nhân hiện tại đã có hàm chứa cái quả tương lai, và cũng trong cái quả hiện tại đã có hình bóng của nhân quá khứ.
         
Nếu như vậy thì sự biến chuyển từ nhân đến quả mau chậm như thế nào?
         
Đây là một điểm tối quan trọng khi nói đến luật nhân quả bởi vì sự biến chuyển từ nhân đến quả có khi nhanh khi chậm, không bao giờ diễn biến trong cùng một thời gian đồng nhất.
         
Có khi từ nhân đến quả cách nhau như một cái chớp mắt. Chẳng hạn như khi ta đưa tay nhéo người kế bên (nhân), thì họ la làng ngay (quả).
         
Có khi từ nhân đến quả cách nhau mấy tháng, như khi ta gieo lúa (nhân)  cho đến mùa gặt (quả) thì phải trải qua bốn năm tháng.
          
Có khi đòi hỏi đến một vài năm, hay dài hơn nữa. Như khi ta lo thủ tục đi định cư đoàn tụ gia đình (nhân) cho đến khi họ đến Hoa Kỳ (quả) phải mất khoảng từ hai, ba hoặc năm, sáu năm.
         
Có khi đòi hỏi đến vài trăm năm thì nhân quả mới xuất hiện.
          
Vậy nhân quả ảnh hưởng về tư tưởng và hành động của cuộc sống chúng ta như thế nào?
         
Lý do mà triết lý Đạo Phật quá cao siêu bởi vì Đức Phật đã tìm ra nguồn gốc của sự đau khổ rồi tìm phương pháp tận diệt nỗi đau khổ nầy. Sau đó Ngài cho ta thấy đâu là lẽ sống chân thật, một hạnh phúc viên mãn, và cuối cùng là dùng phương pháp nào để đạt đến sự sung sướng thật sự này. Đây là triết lý Tứ Diệu Đế mà chúng tôi sẽ đề cập trong những chương sau nầy.
         
rong những nguyên nhân chính tạo ra sự đau khổ và mang lại trong Tâm ta rất nhiều điều phiền não, thì tam độc (Tham, Sân, si) đóng một vai trò tối quan trọng trong việc tạo tác những Nhân xấu. Những nhân xấu nấy đã đưa cái thân Tứ đại của chúng ta đến những hậu quả vô cùng thê thảm, mà trong đó bao gồm hy vọng và niềm tin thoát ra khỏi cái vòng luân hồi lẫn quẩn. Do đó chúng ta càng tạo nhiều nhân tốt thì tương lai chúng ta sẽ gặt hái nhiều kết quả sáng lạng. Đó chính là cứu cánh cho cuộc sống hiện tại của chúng ta được an vui tự tại cũng như vun trồng bồi đắp cho mảnh vườn công đức được đơm hoa kết trái.
           
Vậy thế nào là thân tứ đại? 
           
Theo giáo lý nhà Phật thì thân của chúng ta là do bốn món hợp thành nên không chắc thực lâu bền. Bốn món đó là: đất, nước, gió, lửa và vì những thứ này có thể tìm thấy ở mọi nơi nên mới có tên là đại. Chất cứng trong thân thể chẳng hạn như xương thịt, tóc da thì thuộc về đất. Chất ướt như là máu me, nước, đờm thì thuộc về nước. Chất làm cho thân thể nóng nhiệt thì thuộc về lửa.  Chất làm cho tế bào, dòng máu,và nước chuyển động thì thuộc về gió. Nếu thiếu một trong bốn món nầy thì thân phải hui nhị tì. Nhưng bốn món nầy thì luôn luôn thù nghịch chống đối nhau như lửa thì không ưa nước còn đất thì kỵ gió và ngược lại. Khi lửa thịnh hơn nước thì chúng ta cảm thấy nóng bức đau đầu còn gió thạnh hơn đất thì thân chúng ta đau nhức quằn quại. Vì chúng luôn luôn chống đối nhau, nên lúc nào thân của chúng ta cũng có thể bệnh hoạn hay chực chờ để tan rã. Nếu chúng ta khéo điều hòa thì thân nầy còn an ổn, bằng không thì chúng dễ dàng băng hoại. Sự băng hoại của thân thật bất định. Một mạch máu bể, một cái sẩy chân, một luồng gió độc, một viên đạn xuyên qua…là mất mạng. Sự hòa hợp cũa tứ đại thật là khó khăn và không có gì bảo đảm lâu dài bởi vì chúng mang bản chất thù nghịch nhau. Khi chúng ta đang thở là mình đang mượn gió để hít thở và miệng ta ăn cơm uống nước là mượn nước, mượn đất và lửa. Nếu sự vay mượn ấy được thuận chiều ổn thỏa thì thân được an vui khỏe mạnh còn nếu bị trở ngại khó khăn thì thân đau đớn nguy kịch.
         
Thật vậy, cuộc sống an vui hạnh phúc là do sự vay mượn một cách yên ổn điều hòa, và ngược lại là sự sống đau khổ bất hạnh. Vậy sự sống còn là nhờ vay mượn thì ai dám nói thân nầy là thật, là bền vững lâu dài. Thậm chí đất, nước, gió, lửa bên ngoài là của thiên nhiên trời đất, vậy mà khi chúng ta mượn vào xài, thì liền cho nó là của chính mình.
         
Khi đã hiểu rõ luật nhân quả, chúng ta có thể mạnh dạn gạt bỏ những quan niệm mê tín dị đoan. Chẳng hạn như chúng ta mua đồ vật thật nhiều, đủ thứ để cúng lạy Phật trời với hy vọng sẽ được giàu sang, phú quý. Trên đời này làm gì có đạo lý như vậy! Đây là hoàn toàn mê tín dị đoan bởi vì đã là Phật thì không khi nào đi ăn hối lộ để ban thưởng cho ai cả. Nếu chúng ta được hưởng giàu sang phú quý ngày nay là bởi kiếp trước chúng ta rộng tâm bố thí giúp kẻ khốn cùng, giúp người   nghèo khổ, che chở kẻ hoạn nạn để tạo ra phúc đức nên kiếp này chúng ta được hưởng vậy thôi. Nếu chúng ta muốn tiếp tục hưởng sự giàu sang nầy thì ngay bây giờ chúng ta phải cố gắng tạo dựng thêm phước đức để bảo đảm cho hậu vận của mình. Cũng như tiền bạc trong ngân hàng, cho dù chúng ta có nhiều đi chăng nữa, nhưng nếu cứ lấy ra xài hoài thì một ngày nào đó số tiền kia cũng phải cạn đi. Người khôn ngoan thì phải tạo thêm để bảo đảm cho tương lai hậu vận của mình, càng nhiều phước đức thì càng hạnh phúc về sau. 
         
Thêm nữa, khi đã hiểu luật nhân quả thì chúng ta biết rằng cuộc đời của chúng ta là do nghiệp nhân của mình tạo ra. Chính mình là người thợ tự xây dựng đời mình, chính mình là kẻ sáng tạo ra cái ta, thì mình phải cố gắng làm điều tốt, càng nhiều thì càng phúc lợi. Đó là những cái nhân quý báu để đem lại những cái quả tốt đẹp về sau.
           
Có người lại than phiền rằng: tại sao lại có người cả đời ăn hiền ở lành mà lúc nào cũng gặp toàn cảnh đắng cay, đau khổ còn kẻ gian ác thì tại sao lại được sung sướng giàu sang? Như chúng ta đã biết, thời gian biến chuyển từ nhân đến quả có khi nhanh khi chậm. Có cái nhân dẫn đến quả ngay củng có cái nhân từ đời này đến đời sau mới thành quả. Vậy trong kiếp trước họ đã tạo quá nhiều nhân xấu, nên kiếp nầy họ phải chịu quả báo. Còn những kẻ gian ác kia, mặc dầu hiện tại họ có phần sung sướng, bởi vì tiền kiếp họ là người tốt, nhưng với những ác nghiệp hoặc nhân xấu mà họ đang tạo ra, thì chắc chắn là tương lai hậu kiếp của họ thật đen tối vô cùng.
         
Bởi vậy cổ nhân có câu:
           
Thiện ác đáo đầu chung hữu báo
Chỉ tranh lai táo dữ lai trì.
Tạm dịch là:
         
Việc lành hay việc dữ đều có quả báo
  
Chỉ khác nhau là đến sớm hay muộn mà thôi.
         
Lại cũng có người thắc mắc: theo luật nhân quả thì ai làm nấy chịu, tại sao cha làm mà con phải gánh?  Theo giáo lý nhà Phật thì Nhân quả Nghiệp báo có hai loại:

Ø    Biệt nghiệp: là nghiệp báo riêng của mỗi chúng sinh, có nghĩa là mình tạo thì mình hưởng.
Ø    Công nghiệp: là nghiệp chung cho nhiều chúng sinh, cùng sống trong một hoàn cảnh. Do đó khi sống chung trong một gia đình thì cái nghiệp quả phải có liên quan với nhau.
Bởi vậy sách có câu:
    
Nhất nhơn tác phước, thiên nhơn hưởng;
    
Độc thọ khai hoa, vạn thọ hương.
 
Nghĩa là: một người làm phước, ngàn người được nhờ. Một cây trổ hoa, muôn cây  thơm lây.
                 
Khi Bồ tát Văn Thù hỏi về thiện tri thức?
         
Đức Phật trả lời rằng:”Thiện tri thức tâm tánh mềm mỏng hòa nhã, giới hạnh tinh chuyên, lòng không tham lam tật đố, không ái luyến vật chất, tâm thường bình đẳng, ý không thương ghét. Có đại phương tiện độ mình độ người, tùy theo căn tánh của mỗi người mà giáo hóa, đủ pháp tổng trì. Lòng tốt đối với người, làm ơn cho người chẳng cần trả, tu hành trong sạch, không có lỗi lầm, thuyết pháp luận nghĩa đều hiệp ý kinh.
         
Nếu có trí tuệ hơn người, phước đức siêu quần, không chỗ nào chẳng lành, không pháp nào chẳng biết. Mở cửa chánh đạo, ngăn dẹp đường tà, trồng trí huệ thơm khắp, căn cơ lớn, diệu dụng lớn, hạnh nguyện lớn, uy lực lớn. Đây chính là đại thiện tri thức chân chánh”. 

17. Giới thiệu Kinh Pháp Hoa 
(Saddharma Pundarika Sutra)
      
 Kinh Pháp Hoa nguyên văn là : “Diệu Pháp Liên Hoa Kinh”, được xem như là bộ kinh siêu việt vĩ đại nhất của Phật giáo đã được xuất hiện vào khoảng thế kỷ thứ II sau Tây lịch. 
 
         
Sau khi Đức Phật nhập diệt khoảng 100 năm thì giáo đoàn bắt đầu chia rẽ. Họ giải thích quan điểm, giáo lý và giới luật của Phật giáo tùy theo các nhóm, các phái và giữa các vùng khác nhau. Sự phân chia tông phái mỗi ngày mỗi tăng, có đến 20 tông phái do đó tinh thần giáo lý Nguyên thủy được ghi nhớ và giải thích có phần lệch lạc. 
  
 Những người Phật tử trí thức và đầy tâm huyết muốn thấy Phật giáo có sự sống sinh động và có tác dụng tích cực như thời Đức Phật còn tại thế nên họ đứng lên khởi xướng phong trào mới có tên là Đại thừa (Mahayana), tức cỗ xe lớn chứa được nhiều người đến nơi Phật quả. Còn Phật giáo truyền thống được coi là Tiểu thừa tức cỗ xe nhỏ, ích kỷ, mà  chỉ chứng được quả A La hán là tối đa. Sự va chạm giữa Đại thừa và Tiểu thừa đã xảy ra một cách mạnh mẽ, đến độ không ai chấp nhận ai. Những kinh điển Đại thừa lần lượt xuất hiện trong đó bộ Bát Nhã là bộ kinh lớn xuất hiện khá sớm, khai triển tư tưởng Chân không, tích cực đã phá Tiểu thừa, cho rằng hạng Tiểu thừa không phải là con của Phật.
         
Sự đã phá chỉ trích lẫn nhau đã làm cho Phật giáo suy yếu. Trong bối cảnh đó, Kinh Pháp Hoa xuất hiện, với chủ trương hòa giải mọi mâu thuẩn của hai dòng tư tưởng Đại thừa và giáo lý truyền thống để tạo sự thống nhất về tư tưởng và đường lối Phật giáo.
         
Kinh Pháp Hoa là tổng hợp những tư tưởng cốt tủy của Bát Nhã, Hoa Nghiêm, Duy Ma Cật, đồng thời mở ra chân trời mới cho tất cả mọi con người trong xã hội. Đó là ai ai cũng có Phật tánh do đó ai ai cũng có khả năng thành Phật. Kinh Pháp Hoa không trình bày theo khía cạnh triết học mà theo phương cách mới có tính chất đại chúng, thực tiển và dễ hiểu cho nên Kinh Pháp Hoa được xem như là vua của các kinh.
          
Chữ Kinh Pháp Hoa được dịch ra từ tiếng Phạn: Saddharma Pundarika Sutra. Sad có nghĩa là diệu, Dharma là pháp, Pundarika là hoa sen trắng và Sutra là kinh. Dịch là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh hay gọi tắt là Pháp Hoa Kinh.
         
Diệu pháp là chân lý mà chân lý thì có chân lý tương đối và chân lý tuyệt đối. Hoa sen trắng tượng trưng cho sự thanh khiết, thanh tịnh và không ô nhiễm. Nói một cách khác là chúng sanh ở trong cõi ta bà nầy vẫn có thể vươn lên để được giải thoát hoàn toàn, như hoa sen mọc ở trong bùn mà vươn lên trên bùn, không bị ô nhiễm mà còn tỏa sắc hương.

Kinh Pháp Hoa có tất cả 28 phẩm:

1)   Phần đầu tức là phẩm mở đầu.
2)   Phẩm phương tiện (sự khéo léo).
3)   Phẩm thí dụ.
4)   Phẩm tín giải (niềm tin vững chắc).
5)   Phẩm dược thảo (nói về cây thuốc).
6)   Phẩm thọ ký (xác nhận thành Phật).
7)   Phẩm hóa thành dụ (thí dụ về thành phố biến hóa)
8)   Phẩm ngũ bách đệ tử thọ ký (xác nhận cho 500 đệ tử thành Phật).
9)   Phẩm thọ học vô học nhân ký (xác nhận cho những người cần phải học và người không cần phải học thành Phật).
10)  Phẩm pháp sư (thầy dạy pháp).
11)  Phẩm hiện bảo tháp (hóa hiện tháp báu).
12)  Phẩm Đề Bà Đạt Đa.
13)  Phẩm trì (giữ gìn kinh).
14)  Phẩm an lạc hạnh.
Trong 14 phẩm trên được gọi là phần Tích môn. Phần nầy nói về giáo lý của Đức Phật Thích Ca khi sanh ra, lớn lên, xuất gia, thành đạo, nhập diệt và dạy giáo lý thoát khổ ở cõi thế gian nầy. 
Trong kinh, phần nào Đức Phật thuyết pháp ở núi Linh Thứu thì thuộc về Tích Môn  cũng còn gọi là Chân lý tương đối. Và sau đó thì có:
1)   Phẩm Tùng Địa Dõng Xuất (từ đất vọt ra).
2)   Phẩm Như Lai Thọ Lượng.
3)   Phẩm Phân Biệt Công Đức.
4)   Phẩm Tùy Hỷ Công Đức.
5)   Phẩm Công Đức Pháp Sư.
6)   Phẩm Thường Bất Khinh Bồ Tát.
7)   Phẩm Như Lai Thần Lực.
8)   Phẩm chúa Lụy  (dặn dò).
9)   Phẩm Dược Vương Bồ Tát.
10) Phẩm Diệu Âm Bồ Tát.
11) Phẩm Quán Thế âm Bồ Tát.
12) Phẩm Đà-la-ni (mật chú).
13) Phẩm Diệu Trang Nghiêm Vương Bổn Sự(chuyện về vua Diệu Trang Nghiêm).
14) Phẩm Phổ Hiền Bồ Tát Khuyến Phát (sự khuyến khích của Bồ tát Phổ Hiền).

        Trong 14 phẩm trên thuộc về phần Bổn môn. Phần Bổn môn là phần gốc, là nền tảng của Tích môn. Bổn môn có nghĩa là Đức Phật đã thành Phật từ vô lượng kiếp. Phật hiện hữu suốt chiều dài của thời gian và phổ biến cả không gian. Chân lý của Bổn môn là tuyệt đối. Cũng nhờ giáo lý Bổn môn nầy mà giải thích tất cả chúng sanh có thể thành Phật bởi vì trong tất cả chúng sanh đều có Phật tánh. Đây là điểm đặc thù của Kinh Pháp Hoa. Chính do nghĩa lý nhiệm mầu sâu xa của kinh nầy mà Ngài Trí Giả Đại sư (538-597) một người đã theo học pháp môn Pháp Hoa đến chỗ tuyệt đỉnh tận cùng, dựa vào bản kinh của tuệ giác bình đẳng vĩ đại nầy để dựng lên một tông phái mà một thời được coi như lẫy lừng nhất trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc với uy tín hầu như đã bao trùm toàn bộ Phật giáo phía Nam Trung Quốc. Đó chính là Thiên Thai Tông. Năm 594, người được coi là khai tổ cho nền văn minh Nhật Bản, Thánh Đức Thái tử (Shotoku) đã tập trung tất cả ý thức lãnh đạo dân tộc Nhật vào ba quyển kinh mà Kinh Pháp Hoa được xem là quan trọng nhất.

Kinh Pháp Hoa được dịch rất sớm và có rất nhiều bản dịch khác nhau. Nhưng ngày nay chỉ còn ba bản dịch trong Đại tạng là:

1.    Chánh Pháp Hoa 10 quyển, do ngài Pháp Hộ dịch vào đời Tây Tấn (265 Tây lịch).
2.    Diệu Pháp Liên Hoa Kinh 5 quyển do ngài Chi Đạo Căn dịch đời Đông Tấn (335 TL).
3.    Thiêm Phẫm Diệu Pháp Liên Hoa Kinh 7 quyển do hai ngài Xà-la-hốt-đa và Đạt-ma-cấp-đa cùng dịch vào đời Tùy (601 Tây lịch).

Cũng vì tính cách quan trọng của bộ kinh nầy mà trước khi nói Kinh Pháp Hoa, trong pháp hội đông đảo đại chúng gồm chư Bồ tát, đại Tỳ kheo, Thiên, Long, Dạ Xoa, Càn thát bà, A tu la, Ca lâu la… Đức Thế Tôn đã nhập vào đại định, phóng hào quang chiếu soi khắp mười tám ngàn cõi ở phương Đông, đều thấy cõi nước trang nghiêm của các Đức Phật, khiến đại chúng trong đó có cả Bồ tát Di Lặc, vô cùng kinh ngạc trước phép lạ hy hữu từ trước đến nay chưa từng có và không biết do nhân duyên gì mà mà lại có điềm lành nầy. Thêm nữa, Kinh Pháp Hoa đã dành cho Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi (Bồ tát đại biểu cho trí tuệ siêu việt) cái nhiệm vụ vô cùng vinh dự là thông báo cho đại chúng biết một thời pháp vô cùng quan trọng của Đức Bổn Sư. Đây là vai trò thị giả phát ngôn của Phật, đồng nghĩa với người điều khiển chương trình thời nay. Cũng như Đại Thế Chí Bồ tát (tượng trưng cho trí tuệ) là thị giả cho Phật A Di Đà vậy.

Sau cùng, Kinh Pháp Hoa đóng một vai trò quan trọng trong công cuộc hàn gắn sự đổ vỡ của các tông phái Phật giáo. Mặt khác chính kinh nầy đã đặt lại giá trị của mọi đường lối tu tập và nhất là giá trị tâm thức hướng thiện, hướng thượng của tất cả chúng sanh. Với một đường lối dung hòa và với tư tưởng pháp chân không siêu thoát, Kinh Pháp Hoa đã đạt được mục đích của mình là khai thị  chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến. Vì những lý do đó mà kinh được tôn thờ, quý kính, hành trì và phổ biến một cách sâu rộng trong cộng đồng Phật giáo khắp nơi.

Tạp niệm là bịnh, niệm Phật là thuốc, niệm Phật chính là để trị tạp niệm. Nêu chưa thấy kết quả thì tại vì chúng ta chưa dụng công hoàn mãn. Cho nên khi tạp niệm nổi lên, phải chuyên lòng gia công niệm Phật. Mỗi chữ, mỗi câu niệm Phật tinh nhất không xao lãng thì tạp niệm dứt.

 
Tác giả bài viết: Lê Sỹ Minh Tùng
Nguồn tin: Thư Viện Hoa Sen
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Giới thiệu

Giới thiệu về Thiền Lâm

LỜI NGỎ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch chư Tôn đức Tăng Ni ! Kính thưa quý Phật tử và quý Thiện hữu tri thức ! Trong cuộc sống hiện đại, con người luôn bị thôi thúc, cuốn hút bởi rất nhiều thông tin từ mọi hướng nhưng không ai trong chúng ta lại không nhìn nhận rằng, công nghệ...

Thống kê

  • Đang truy cập: 36
  • Hôm nay: 566
  • Tháng hiện tại: 158067
  • Tổng lượt truy cập: 17225982

Tin xem nhiều

Xem bản: Desktop | Mobile