Nguyền mong thân cận minh sư, quả Bồ Đề một đêm mà chín. Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa Ưu Đàm mấy kiếp đâm bông.
Rss Feed

Lời vàng trong mộng - Phần 4

Đăng lúc: Chủ nhật - 25/12/2011 11:44 - Người đăng bài viết: Tịnh Cường
Lời vàng trong mộng - Phần 4

Lời vàng trong mộng - Phần 4

Máy Đạo không xa xôi, Quay đầu lại thấy rồi; Thấy ra mau hay chậm, Là do sức tỉnh hồi. Thanh-Sĩ.

LỜI VÀNG TRONG MỘNG 02

****

Dụng phép nhiệm âm dương biến hóa,

Quyết làm sao cho quả địa cầu;

Trở nên một cõi báu châu,

Không người lao khổ thảm sầu mới ưng.

Ai cũng được hiền nhân đạo đức,

Không có loài quái vật độc trùng;

Hạng người tội lỗi ác hung,

1645. Cho sanh vào cõi bần cùng khác xa.

Con nhớ gọi trẻ già khắp chỗ,

Nếu muốn không bị khổ lâu dài;

Thì là hãy khá tu ngay,

Chớ đừng lần lựa nay mai không rồi.

Bom đạn vẫn chưa thôi chế tạo,

Dân sanh còn điên đảo hết đâu;

Do nhân duyên tạo địa cầu,

Cũng nhân duyên khiến đài lầu tan hoang.

Thế giới đã muôn ngàn lần biến,

Nào phải đâu là chuyến đầu tiên;

Cứ xem cồn vực hiểu liền,

1657. Nổi lên chìm xuống có yên bao giờ.

Cồn vực nhỏ mau cơ biến đổi,

Quả đất to lâu mới thay hình;

Xét ra há chẳng giựt mình,

Đang ngồi trên đám lục bình giữa song.

Người sao chẳng để lòng suy nghiệm,

Tìm hiểu cho được điểm cao thanh;

Biết bao nhiêu cõi hiền lành,

Lâu bền hơn cõi nhơn sanh hiện giờ.

Không đau khổ chẳng cơ giặc giã,

Sống lâu dài không kẻ nghèo hèn;

Nhân lành nhờ đã tạo nên,

1669. Cho nên mới được sanh lên cõi nầy.

Người cũng khá sang ngay bên đó,

Được an nhàn và có phước dư;

Cõi trần ai cũng sầu tư,

Giàu nghèo chẳng có mấy người không lo;

Đời sắp rốt tu cho gấp gấp,

Trễ thời kỳ khó lập công phu,

Một giờ đem đổi muôn thu,

Há không chịu khó lo tu cho thành.

Nghe lời nầy động tình rơi lệ,

Phật thương đời như thế là cùng;

Thật là hữu thỉ hữu chung,

1681. Xưa sao nay vậy không lòng đổi thay.

Cứ thương mãi dù ai có ghét,

Vẫn nhớ hoài cũng mặc người quên;

Nghĩ rồi ta lại khóc lên,

Ơn nầy biết thuở nào đền cho xong.

Phật liền mới ôn tồn khuyên bảo,

Con chớ nên áo não trong lòng;

Con luôn ăn ở sạch trong,

Ấy là con đề đáp xong ân tình.

Phật dụng lành đem lành đáp lại,

Tức nhiên là đạo ngãi tròn vuông;

Khó chi mà phải ưu buồn,

1693. Hãy nên hoan hỷ lo suôn phận mình.

Con rán tập được tình như Phật,

Lòng biết thương vạn vật sanh linh;

Dù ai cay đắng mặc tình,

Cứ lo khuyên dỗ lời lành cho nghe.

Khuyên được kẻ không khoe rằng giỏi,

Người không nghe chẳng khởi lòng hờn;

Không chờ ai đáp đền ơn,

Cứ đem lòng thí không cần phải thâu.

Dạy đến hiểu mau lâu không nệ,

Miễn người tu không kể lao thân;

Dù người gạn hỏi bao lần,

1705. Cũng vui đáp lại không hờn điều chi.

Cứ biện giải đến khi rõ lý,

Nghe cũng vui, khinh bỉ không buồn;

Kệ mầu như suối cứ tuôn,

Chẳng buồn rêu cản, không buồn cỏ ngăn,

Lòng thương chúng không ngằn bờ mé;

Thương người như lòng mẹ thương con,

Cứ lo phận sự cho tròn;

Khổ lao chẳng nệ, mất còn không nao.

Giữ sự lành hơn giàu giữ của,

Cứ săm soi không bữa nào rời;

Lo tu hơn kẻ lo đời,

1717. Ngày đêm chẳng ngớt vun bồi phước duyên.

Đời lo được nhiều tiền nhiều của,

Đạo mong sao nên quả nên công,

Phật không ngớt niệm trong lòng,

Phước không quên tạo khắp trong xóm làng.

Khổ thay đời không than không trách,

Vui trên đường đạo đức sớm khuya;

Xác thân có thể vui lìa,

Nhân lành lòng quyết không hề rời ra.

Thà bỏ mạng không xa chánh đạo,

Trừ tà tâm hơn tảo trừ thù;

Lòng tham của đổi tham tu,

1729. Được như vậy chẳng bao lâu tất thành.

Không thành tại chẳng hành chánh đạo.

Đâu phải do Phật giáo không linh,

Nghề chuyên học tất nghề tinh;

Tâm chuyên niệm Phật tâm linh không lầm.

Câu vạn sự do tâm rất đúng,

Khéo do tâm vụng cũng do tâm;

Thành cù sấu phải chịu nằm,

Muốn soi trăng huệ sóng tâm phải b.nh.

Cứ như thế mà hành chín-chắn,

Dù quả chi cũng đặng chứng thành.

Con nên khuyên nhủ nhơn sanh,

1741. Nếu người nhận phải thì hành mau đi;

Chờ gặp cuộc biến di thương hải,

E cho người hối cải muộn màng;

Rán lo làm phước làm doan,

Để mà được dự hội hàng Phật Tiên.

Có vị từ hoa sen hiện tới,

Có vị từ trong khối mây ra;

Trên hư không bỗng có nhà

Rồi từ trong ấy đi ra nhiều Ngài.

Có vị từ trong cây mà xuất,

Có vị từ dưới đất chun lên;

Núi non lại hóa lầu đền,

1753. Nơi lung trấp bỗng biến nên thị thành.

Trên trời hiện mây lành ngũ sắc,

Lại có luôn ca nhạc Thần Tiên;

Mưa hoa rơi xuống khắp miền,

Cúng dường các bực Thánh Hiền mười phương.

Hào quang chiếu các đường các nẻo,

Có mây lành phủ kéo khắp nơi;

Phật Tiên lộ vẻ vui cười,

Dung nhan đẹp đẽ gấp mười bông hoa.

Do công đức hiện ra nhiều phép,

Sức biến thâu quỉ khiếp thần kinh;

Linh ngoài sức tưởng tượng linh,

1765. Oai không ai dám địch kình nổi oai.

Núi vàng hóa phương Tây hực hỡ,

Lầu ngọc bày chói rỡ hướng Đông;

Lắm người đắc phép lục thông,

Nhiều bà về Phật, lắm ông qui Thần.

Cõi sen hiện chín tầng chín cấp,

Do công tu có thấp có cao;

Có hào quang đủ các màu,

Người già hóa trẻ cùng nhau tươi cười.

Các Phật thuyết nhiều lời bí thẳm,

Khiến nhiều người nghe đặng khai thông;

Lấy làm hoan hỷ nơi lòng,

1777. Nào lời tán thán nào bông cúng dường.

Đâu đâu cũng mùi hương thơm ngát,

Cảm lấy duyên chim hót thanh thao;

Đông Tây bất luận chỗ nào,

Các hoa đều trổ để chào Phật Tiên.

Ngày trời kế đêm liền trăng mọc,

Bốn mùa không lạnh nực tiết thời;

Nhà nhà đều được thảnh thơi,

Không ai đui điếc chẳng người què câm.

Đường không bụi đâu nằm cũng được,

Cây không gai cỏ mướt lại êm;

Ngày hằng chí những về đêm,

1789. Luôn luôn có gió thổi lên nhẹ nhàng.

Nhiều người biết phi đằng rất chóng,

Thường ngao du khắp bốn phương trời;

Cảnh nầy đáng cảnh vui chơi,

Thiệt tân thế giới, thiệt người Thượng-Nguơn.

Ai muốn được để chơn đến đó,

Phải lương hiền đừng có hung hăng;

Quan dân cư xử công bằng,

Việc nhà việc nước ở ăn dung hòa.

Kẻ nhận lỗi thứ tha khoản đãi,

Người đói nghèo cơm vải cấp ban,

Giúp người bịnh những thuốc thang;

1801. Lòng nhân bủa khắp xóm làng gần xa,

Được thế sẽ truông qua cõi trược.

Cảnh Thần Tiên sẽ được sống qua,

Lời nầy của Phật nói ra;

Con đem truyền lại trẻ già được hay,

Ta liền chắp hai tay kính bái,

Xin vâng lời truyền lại nhân gian;

Trên đường phổ biến đạo tràng,

Mong ơn Phật độ cho đàng được xuôi.

Đức đã kém gặp hồi điên bái,

Như thuyền con đem lái biển to;

Nếu không nhờ Phật giúp cho,

1813. Việc ngưng trước cảnh gay go không chừng.

Phật rằng: việc dù ngưng đi nữa,

Cũng nhứt thời rồi sửa lại suôn;

Khuyên con chớ khởi lòng buồn,

Lớp không gay cấn thì tuồng chẳng hay.

Con chớ ngại đức tài non kém,

Độ một người hướng thiện quày đầu;

Đức kia lớn sánh địa cầu,

Giá cao hơn giá bảo châu ngàn lần.

Vậy con hãy tinh thần cứng mạnh,

Xông thuyền ra trước cảnh phong ba;

Cứu người khỏi đắm ái hà,

1825. Trên đầu luôn có Phật- Đà chiếu soi.

Ta vừa được nghe lời Phật thuyết,

Mừng hơn tù được dịp thả ra;

Nguyện từ gần đến chỗ xa,

Nơi nào cũng đến để mà giáo dân.

Nghe cũng tốt không cần cũng mặc,

Vẫn thương yêu lo nhắc nhở thường;

Tiện thì nói trước công đường,

Không thì mượn mực tỏ tường gần xa.

Từ đáy lòng phát ra lời nguyện,

Xin Phật Ngài chứng kiến cho đây;

Phật rằng: duyên ấy lành thay,

1837. Con mau tinh tấn hành ngay ý mình.

Trời còn rọi đạo lành còn tỏ,

Nay nhằm thời Tịnh độ trùng hưng;

Tự nhiên khắp cả chúng dân,

Biết câu lục tự không cần dạy cho.

Họ biết chớ không lo trì niệm,

Vậy con nên khéo khuyến cho người;

Đứng, đi hoặc lúc nằm ngồi,

Di-Đà sáu chữ đừng rời trong tâm.

Thành lòng niệm khỏi lâm tai họa,

Cũng năng trừ được cả yêu tinh;

Đừng ngờ niệm Phật không linh,

1849. Niệm cho đến niệm chí thành thử coi.

Xé được vỏ thì ngòi mới lộ,

Trừ được mê tất ngộ đạo mầu;

Tu hành đừng nệ mau lâu,

Trước sau cũng đắc có đâu sai lầm.

Kế đó Phật liền ngâm bài kệ:

Từ thạch năng hút sắt.

Ngại vật khó giao bôi.

Phật cùng tâm vốn một

Vọng niệm cắt làm đôi.

Khi trừ xong ngại vật.

Từ thạch liền hút sắt.

Vọng niệm dứt đi rồi.

Phật cùng tâm thống nhứt.

Lời Phật kệ tai nghe vừa dứt,

Bỗng nhiên lòng sáng rực thêm ra;

Thế là giữa Phật cùng ta,

1866. Cách nhau vì vọng, gần là vì chơn.

Vọng ấy tức là trần-tâm vọng,

Chơn kia là tức bổn lai chơn;

Thế thì trong xác tạm trần,

Há không vi ẩn Phật thân chăng là.

Liền cúi mặt thưa qua cùng Phật,

Thể theo lời kệ mật vừa qua;

Chúng sanh trong cõi Ta-bà,

Trí, ngu gì có thể là Phật ư?

Phật rằng: vẫn đúng như thế ấy,

Khắp ba ngàn thế giới chúng sanh;

Vọng tâm khi được tịnh thanh,

1878. Trí, ngu đều có thể thành Phật ngay.

Nhưng tâm vọng ít ai dứt được,

Bởi từ lâu nhiễm cuộc hồng trần;

Quen theo mọi vật quanh thân,

Nên khi dứt bỏ trăm phần khó khăn.

Ví như kẻ nhiều năm ghiền nhựa,

Trễ một ngày phát mửa phát đau;

Biết rằng tại hút mà lao,

Có người muốn bỏ không sao bỏ rồi.

Tập thì dễ bỏ thôi rất khó,

Tục thường phân nào có sai đâu;

Tuy là khó bỏ mặc dầu,

1890. Nếu lòng nhứt quyết bỏ sao không rồi.

Hễ tập được bỏ thời cũng được,

Nhẹ thì mau nặng tất hơi lâu;

Miễn người được có một câu:

Việc nào hễ muốn thì âu thật hành.

Được như thế tất thành diệu quả,

Trong nhứt thời đạo cả ắt nên;

Chớ đừng trước thệ sau quên,

Nói vầy làm khác vạn niên không rồi.

Việc đạo lý nói chơi sao được,

Đừng dể ngươi Trời Phật không nên;

Một khi người đã phát nguyền,

1902. Dù sanh dù tử cũng chuyên một lòng.

Con há chẳng hiểu trong dương thế,

Khi có người lập thệ tu hiền;

Thì trong tất cả Phật Tiên,

Đều mừng hơn kẻ được tiền bỏ rơi.

Trái lại cũng vô hồi đau xót,

Khi có người phai lợt đạo mầu;

Lòng nầy sanh chúng biết đâu,

Khi vui nguyện lấy, lúc sầu lại buông.

Nghe lời nầy bắt tuôn nước mắt,

Ta liền quì tay chắp thưa qua:

Lòng từ bi rất sâu xa,

1914. Chúng tu chúng hưởng cũng là mừng cho;

Chúng phụ vẫn thương lo không giận,

Đáng kính thay các đấng từ bi.

Gương nầy muôn kiếp soi ghi,

Cúi xin Đức Phật chứng tri cho lòng.

Phật rằng: lượng khoan hồng nếu có,

Thì tự nhiên tâm nọ được an;

Mối thù oán chẳng buộc ràng,

Việc hờn ghét cũng không mang nơi lòng.

Các Phật lượng khoan hồng thường chứa,

Cứ độ tha không mựa ghét thương;

Nếu con lấy đó làm gương,

1926. Tất là đáng được nối đường Phật gia.

Đối cảnh trần cứ tha không buộc,

Thì nghiệp oan giải được liền khi;

Mắt tha mắt huệ tức thì,

Tai tha tai tỏ lời gì cũng thông.

Thân ý cũng tha không hề buộc,

Thân nhẹ nhàng ý được tịnh minh;

Thứ tha được quả rất lành,

Con nên khuyên thế mở tình biết tha.

Riêng phần con khi ra dắt chúng,

Đối mọi điều thường dụng lòng tha;

Tất là sự chẳng sanh ra,

1938. Đi không ai cản về mà ai ngăn.

Trong lúc phải lóc lăn đây đó,

Gặp đủ người dễ khó tánh tình;

Lòng tha thứ lại cần gìn,

Qua cơn vấn nạn nhạo khinh của người.

Đạo ố đạo trong đời đang thạnh,

Không thứ tha khó tránh đôi co;

Vậy con khá liệu xong lo,

Đừng sai lời Phật dặn dò thiệt hơn.

Ta cúi đầu xin vâng lời giáo,

Miễn sao cho Phật Đạo chấn hưng;

Dù đời thử thách bao lần,

1950. Không làm cho khối tinh thần núng nao.

Khi ngược gió cắm sào đậu lại,

Lúc thuận buồm thuyền chạy đi ngay;

Thân nầy xin hiến Phật Ngài,

Nắng mưa chẳng quản đắng cay đâu sờn.

Phật liền bảo: sau cơn đã thức,

Lời con nguyền với Phật khá ghi;

Cũng như Phật bảo những gì,

Ôm lòng chớ để quên đi lời nào.

Đời đang lúc mưa rào sóng vỗ,

Bát nhã thuyền khá đổ mau ra;

Miễn là cứu được người ta,

1962. Hiểm nguy dẫu mấy cũng là kiên gan,

Khi nghe tiếng rên than của chúng;

Động lòng thương họ cũng như mình,

Điều chi cũng vẫn hy sinh,

Giúp người lâm nạn thỏa tình ước mong.

Chúng sanh hiện sống trong nhà lửa,

Cảnh hãi hùng càng bữa càng tăng;

Nhưng vì tử phược thê thằng,

Vẫn còn say đắm bảo rằng chưa sao.

Muốn cứu họ phải giàu gan mật,

Quyết xông vào kéo dắt họ ra;

Cho hay rằng có ngôi nhà,

1974. Đã xây cất sẵn thật là tốt tươi.

Cố khuyên họ nên rời nhà lửa,

Ngôi nhà kia về ở tự do;

Ngày hằng công việc toan lo,

Muốn chi có nấy ấm no đời đời.

Nhược bằng chẳng chịu rời cho chóng,

Xác hồn kia hóa đống tro tàn;

Riêng thân chẳng được cứu an,

Còn lôi con vợ chung đàng lửa thiêu.

Một người mê khiến nhiều kẻ dốt,

Tội càng lây không ngớt lúc nào;

Gương lành muốn được nêu cao,

1986. Con nên nỗ lực kêu gào bá gia.

Hãy tỉnh giấc Nam Kha cho chóng,

Cải thiện ngay kiếp sống bất bình;

Làm theo lời lẽ trong kinh,

Lúc nào cũng nhớ xét mình không quên.

Nếu tư tưởng khởi lên việc quấy,

Muốn lường ai hoặc lấy của ai;

Tức thì định ý trừ ngay,

Chớ không để lộ ra ngoài hành vi.

Lời nào hễ trước khi muốn nói,

Nếu xét rằng vô lối bất công;

Cũng là ngăn lại cho xong,

1998. Không chờ đã lỡ mới hòng ăn năn.

Còn đối với việc làm cũng vậy,

Trước khi làm phải quấy xét rành;

Sau rồi mới khởi thi hành,

Ngõ hầu tránh việc bất lành xảy ra.

Tưởng, nói, làm cả ba phần việc,

Giờ phút nào cũng xét đến luôn;

Tưởng thanh, nói chánh, làm nhân,

Tuy mang phàm xác nhưng Thần Thánh tâm.

Phật lúc nào cũng thầm mong ước,

Cả chúng sanh ở được như vầy;

Thì là Nam Bắc Đông Tây,

2010. Hết còn lo ngại ai gây oán thù.

Dù kẻ chẳng biết tu theo Phật,

Cũng khá gìn nhân cách loài người;

Giữ cho nề nếp tốt tươi,

Không nên bạ nói bạ cười vô duyên.

Nên giữ đạo Thánh Hiền đã dạy,

Đối xử nhau cho phải nghĩa nhân;

Làm con phải biết hiếu thân,

Quạt nồng đấp lạnh đền ơn sanh thành.

Không trộm cướp chẳng tình gian lận,

Thà sạch trong chịu phận nghèo nàn;

Không lòng phụ khó tham sang,

2022. Ở cho phải đạo tào khang chí tình.

Lúc nào cũng biết gìn chữ tín,

Lời hứa rồi nhứt định không sai;

Mỗi khi chịu nghĩa của ai,

Quyết làm sao đáp được rày mới ưng.

Thi ân chẳng mong ân đáp lại,

Thọ nghĩa thì nghĩa phải lo đền;

Làm dân nợ nước đừng quên,

Gặp cơn nguy biến ra đền đáp ngay.

Nhớ đừng cậy lấy oai thế mạnh,

Hiếp đồng bào trong cảnh lầm than;

Cũng đừng bán chức mua quan,

2034. Xoi hang mạch nước mưu toan bất lành.

Việc mãi quốc cầu vinh phải tránh,

Cần gìn lòng trung tín quốc gia;

Trong khi cầm cán nước nhà,

Hai điều liêm chánh phải là nhớ luôn.

Nên tìm cách giải buồn dân chúng,

Chẩn bần cho kẻ túng cơm tiền;

Lấy nhân trị loạn cho yên

Chủ hòa để có kết liên khắp cùng.

Phải trí thức hóa trong dân chúng,

Mở nhiều trường thông dụng ngữ ngôn;

Nên làm cho chúng dân khôn,

2046. Đừng làm cho chúng cả phồn đều ngu.

Dân khôn tất biết câu quốc thủy,

Dân ngu thì luân lý không màng;

Dễ nghe theo kẻ phiến loàn,

Nổi lên phá cuộc trị an nước nhà.

Chừng ấy mới tính ra sao kịp,

Chi bằng lo trước dịp là hơn;

Còn như bổn phận nữ nhơn,

Chữ trinh là báu của thân khá gìn;

Bên trong của gia đình khéo xử,

Phải rành bề kim chỉ nấu nêm.

Dung nghi cần được đoan nghiêm,

2058. Nằm ngồi đi đứng càng thêm chỉnh tề.

Đừng tập tánh ngồi lê đôi mách,

Đem chuyện người kẻ vạch cho ghen;

Tập lời dịu ngọt cho quen,

Những lời mắng chửi rủa nguyền phải xa.

Làm cha mẹ phải là khuôn mẫu,

Cần tránh xa tật xấu cho con;

Việc mình phải giữ cho tròn,

Tất là sẽ khiến cháu con theo mình.

Con lỡ phạm kêu lên dạy dỗ,

Lẽ nên hư phân tỏ rạch ròi;

Chớ lời thô lỗ khó coi,

2070. Nhứt là tránh việc đòn roi dữ dằn.

Ở cho phải công bằng thẳng thét,

Đừng đứa thương đứa ghét bất công;

Làm cha mẹ ở hai lòng,

Nguyên nhân chia rẽ giữa trong gia đình.

Chừng khi chết xác mình nằm đó,

Con cái lo chia của cắt rui;

Sẽ làm miệng thế chê cười,

Rằng là vô phước cho người mẹ cha.

Việc nào cũng phải là cẩn thận,

Chớ vô tình để hận cháu con;

Phải làm tên khắc bảng son,

2082. Đừng đem danh thể vùi chôn dưới bùn.

Đem hai chữ anh hùng cái thế,

Hoặc là câu trời bể đức ân;

Lấy làm tài sản của thân,

Để cho con cháu hay hơn bạc tiền.

Khắp thành thị đến miền thôn dã,

Lớn nhỏ đều giữ dạ theo đây;

Tất là êm ấm trong ngoài,

Ai tròn phận nấy không ai lỗi nghì.

Nhà an được tất thì nước trị,

Cá nhân hòa tất xã hội minh;

Ví như bức lụa đã thành,

2094. Là do nhiều sợi tơ mành làm nên.

Đạo trung hiếu lo đền xong phận,

Khi mạng chung cũng đặng hiển Thần;

Nếu còn sanh lại cõi trần,

Được con thảo thuận và thân an nhàn.

Điều nầy khá truyền sang khắp chúng,

Nếu nhận cho rằng đúng đạo nhân;

Cũng nên mạnh mẽ tinh thần,

Làm theo chớ có ngại ngần bỏ qua.

Ngày tháng chẳng chờ ta nên nhớ,

Nay chẳng làm mai xở không trôi;

Ta liền khế thủ vâng lời,

2106. Đem điều Phật thuyết lưu dời năm châu.

Người thượng căn khuyên câu Phật pháp,

Kẻ hạ cơ chỉ nết Thánh hiền;

Tùy thời tùy cảnh tùy duyên,

Quyết lòng mở rộng cửa thiền mới ưng.

Thể lời Phật đã phân đoạn trước,

Đời nầy không còn được bao lâu;

Sẽ là biển hóa cồn dâu,

Dân gian khắp chốn thảm sầu như nhau.

Nạn nhân tạo binh đao độc chất,

Nạn yêu tinh bắt vật loài người;

Nạn nhiều ác thú ra đời,

2118. Nạn do thời tiết đổi dời gây nên.

Nạn dưới nước nạn trên mặt đất,

Nửa lưng trời cũng rớt nạn tai,

Trong nhà cho đến chí ngoài;

Nơi nào cũng có nạn tai chực hờ.

Để cho kẻ có cơ hối quá,

Con xin đem đạo cả nhủ khuyên;

Mong nhờ Đức Phật giúp duyên,

Khắp trong hạ giới lòng nguyền tu theo.

Phật rằng: Đời khi eo khi ngặt,

Thì luôn mồm niệm Phật vái Trời;

Nạn tai khi được qua rồi,

2130. Thì mồm niệm Phật vái Trời cũng qua.

Câu hết xôi thì là rồi việc,

Nóng bắt tai nguội biết đâu rờ;

Thật không sai chạy bao giờ,

Lòng người thay đổi bất ngờ lắm con.

Khi con đến gọi nôn đạo đức,

Sẽ nhiều người nô nức chạy theo;

Vì rằng sợ nạn hùm beo,

Vì rằng sợ nạn tinh yêu bắt hồn.

Sợ cả việc trời long đất lở,

Sợ lâm vào bom phá chết oan;

Sợ thân ban trái vương mang,

2142. Sợ lâm ói mửa không an xác trần.

Sợ bị lửa bạo Tần thiêu hủy,

Sợ lâm cơn hồng thủy đại nàn,

Sợ không được gặp hội hàng;

Sợ không được thấy núi vàng Phương Tây.

Sợ chẳng được sống ngày Thượng cổ,

Sợ không còn dịp ngộ Thánh Vương;

Vì rằng lo sợ trăm đường,

Mới là chịu khó dựa nương cửa thiền.

Nếu cuộc thế còn nguyên chưa đổi,

Nạn nọ kia chưa tới đó đây;

Đường tu của họ lần phai,

2154. Lòng hăng hái bỏ trôi dài thời gian.

Họ tự tay bứng ngang gốc thiện,

Xuôi theo loài ong kiến càng lung

Đoàn người hữu thỉ vô chung,

Sẽ làm cửa đạo lạnh lùng chẳng không.

Trên đường con ruổi rong thuyết-pháp,

Phải bình tâm khi gặp cảnh nầy;

Hạng người tỉnh lại rồi say,

Chẳng qua đã lọt vào tay quỉ tà.

Con niệm chú Ma-ha Bát-nhã,

Cứu nạn tai cho kẻ thiếu căn;

Cứ đem đạo pháp thâm hoằng,

2166. Vừa thông nẻo chánh vừa ngăn đường tà.

Chớ thấy kẻ lần xa mối đạo,

Rồi đem lòng áo não ngưng chèo;

Nên nhìn vào hạng khắn keo,

Chớ trông đến kẻ để meo Phật- Đài.

Trong khi lắm kẻ thay đổi chí,

Có nhiều người đạo lý gắng công;

Trước sau ôm chặt một lòng,

Dù lâm nạn khổ cũng không lỗi nguyền.

Hạng người nầy căn duyên sâu thẳm,

Giống từ bi đã rấm nhiều đời;

Tánh kia gần tánh Phật Trời,

2178. Rán thêm chút nữa đạt nơi diệu mầu.

Họ vốn thật lòng cầu đạo pháp,

Con cần nên giải đáp cho tường;

Ngày sau đạo mở rộng đường,

Sẽ nhờ nơi họ tuyên dương phần nhiều.

Đời hiểu lý cao siêu Phật pháp,

Cũng sẽ do họ lập luận ra;

Đáng tôn đáng kính sâu xa,

Đương tiền đáng gọi họ là Phật nhi.

Đạo thường có lúc suy lúc thạnh,

Do lòng người khi tỉnh khi mê;

Gặp thời chánh đạo bỏ bê,

2190. Tức nhiên tà giáo nhứt tề nổi lên.

Gây rối loạn từ trên chí dưới,

Khiến nước nguy, vua tối, dân nghèo;

Khắp nơi nghi ngút khói yêu,

Lòng dân không biết mấy chiều mà đo.

Tác giả bài viết: Thanh sĩ Thích Huệ Duyên
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Giới thiệu

Giới thiệu về Thiền Lâm

LỜI NGỎ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch chư Tôn đức Tăng Ni ! Kính thưa quý Phật tử và quý Thiện hữu tri thức ! Trong cuộc sống hiện đại, con người luôn bị thôi thúc, cuốn hút bởi rất nhiều thông tin từ mọi hướng nhưng không ai trong chúng ta lại không nhìn nhận rằng, công nghệ...

Thống kê

  • Đang truy cập: 109
  • Khách viếng thăm: 65
  • Máy chủ tìm kiếm: 44
  • Hôm nay: 10634
  • Tháng hiện tại: 250188
  • Tổng lượt truy cập: 21542317

Tin xem nhiều

Xem bản: Desktop | Mobile