Nguyền mong thân cận minh sư, quả Bồ Đề một đêm mà chín. Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa Ưu Đàm mấy kiếp đâm bông.
Rss Feed

Vạn niên huynh đệ - Phần 3

Đăng lúc: Chủ nhật - 25/12/2011 12:17 - Người đăng bài viết: Tịnh Cường
Vạn niên huynh đệ - Phần 3

Vạn niên huynh đệ - Phần 3

Máy Đạo không xa xôi,Quay đầu lại thấy rồi;Thấy ra mau hay chậm,Là do sức tỉnh hồi. Thanh-Sĩ.

Vạn niên huynh đệ 03

 Thanh sĩ Huệ Duyên
****

Rằng con rán đưa người tới bến.
Có cam go mới hiển đạo mầu,
Không tối tăm đuốc dụng vào đâu;
Có ác mới có câu khuyến thiện,
Huống đã thọ ân Thầy như biển.
Phải rán lo đáp vẹn trọng ân,
Nên thương người như thể thương thân;
1010. Lo dạy dỗ chớ đừng buồn chán,
Bởi dốt nát nghĩa mầu chẳng hãn.
Mới dắt nhau đến đoạn máu rơi,
Há không thương để giảng cạn lời;
Sao lại muốn về ngồi thạch động,
Người chết hết riêng mình còn sống.
Chẳng buồn sao? Chẳng động tâm sao?
Hiện chúng sanh đang rớt dưới ao,
Giờ không cứu chừng nào mới cứu.
Lòng con chán động trên Linh-Khứu;
1020. Phật đến đây khuyên chớ qui sơn,
Lấy từ bi lưu lại trong trần.
Vớt được một linh căn cũng phải,
Đời mạt pháp thú cầm chi loại;
Còn biết tu cho giải nghiệp oan,
Huống loài người có trí khôn ngoan.
Há chẳng biết tìm đàng đạo đức,
Con chớ ngại cứ lo khuyên dứt (3);
Sẽ còn nhiều người biết hồi đầu,
Hội Long hoa sẽ chẳng còn lâu.
Rán giúp chúng về chầu chư Phật,
Phật nói xong hóa quang bay mất;
Văng vẳng lời kệ rất siêu mầu,
Từ xưa nay dễ mấy ai đâu.
Được mật giáo cao sâu lời kệ,
1035. Con lành hiểu máy Thiên,
Thanh trược rất tường Tế;
Đắc thất cứ lo Hoằng,
Đạo đời luôn vẹn Thệ.
Kẻ dốt chỉ đường Khai,
Sĩ hiền bày cửa Huệ;
Thành bại vẫn độ Nhơn,
Công đức siêu trên Thế.
Vắng bóng Phật hương còn lưu để,
Mùi thơm tho khắp cả gian phòng;
Em như vừa mới tỉnh giấc nồng,
Vừa cảm đức vừa lòng kinh hãi.
Lời ấy há em không nhớ lại,
Để sớm hôm bơi chải cứu đời;
Nếu trễ qua chẳng kịp cơ trời,
1050. Thương bá tánh nổi trôi biển cả.
Ta cúi đầu cảm lời quí hóa,
Đúng như lời Ngài đã nhắc qua;
Trước kia vì gặp cảnh nồi da,
Đây vừa thẹn vừa là chán ngán.
Muốn qui sơn ngồi trên đá tảng,
Tịnh thiền cho đến đoạn khí trần;
Cảnh giết nhau lòng chẳng muốn gần,
Khi đó Phật hiện thân bảo thế.
Ân đức ấy lấy chi so kể,
1060. Đây vẫn còn ghi để không quên;
Cũng đồng như cảnh tượng ở trên,
Đây vừa mới nghĩ nên bỏ xác.
Liền có Ngài hiện ra trước mắt,
Đem nhiều lời châu ngọc dạy cho;
Khiến cho lòng thêm nỗi âu lo,
Ân nặng biết sao cho vẹn được.
Thân gầy lại đang nhiều trái ngược,
Việc khó làm nên được ý mình;
Nếu cánh buồm bị gió xé banh,
Ân chẳng vẹn cơ duyên cũng lỡ.
Lại đang cảnh cửa nhà đồ sộ,
Cột bé e khó đỡ vững vàng;
Nói tới đây Đạo sĩ chặn ngang,
Liền cất giọng kệ vang như kiểng.
1075. Lái một thuyền lớn ngàn,
Chuyển đi khắp hải giang;
Tượng một con tuy ít,
Kéo được gỗ đầy đàng.
Mặt trời vẫn có một,
Soi sáng khắp trần gian;
Đừng buồn thân lẻ một,
Nhỏ dầu có sức lan.
Bảo tiếp rằng khắp trong nhân vật,
Thăng hay trầm chỉ một lần nầy;
Dễ siêu mà cũng dễ đọa đầy,
Khá giúp họ khỏi sai đường lối.
Thành Tiên Phật luôn luôn nhàn rỗi,
Rớt quỉ ma mãi mãi lao lung;
Được làm người ấy cũng bực trung,
1090. Rơi vào loại côn trùng tối hạ.
Lành ắt siêu, dữ thì phải đọa,
Chơn chánh nên, giả trá thì hư;
Tà bất công, chánh vẫn vô tư,
Thân dù khổ miễn người vui được.
Việc lớn nhỏ cũng vì dân phước,
Chánh đó ư! và phước đó ư!
Tuy giải bày có lắm ngôn từ,
Kết luận chỉ mấy lời nói đó.
Nhiệt tâm có tất làm chẳng khó,
1100. Em nhớ khuyên đời chớ ngại nghi;
Và riêng em khá bớt ưu bi,
Cây một cội chung qui nhiều trái.
Còn cơ duyên xác còn tồn tại,
Dù trải qua đèo ải bao phen;
Chớ ngại chi thân thế yếu hèn,
Trong hèn yếu có chen cứng mạnh.
Đừng nệ khó cũng đừng than bịnh,
Máy Trời kia đã định từ lâu;
Lúc em vừa mười sáu tuổi đầu,
1110. ĐÃ thấy bóng nhiệm mầu có phải?
Có một vật sáng xanh hình thái,
Thường đêm bay qua lại trong màn;
Đẹp như sao sáng sắc dịu dàng,
Nh.n lâu mấy không chan chói mắt.
Em đã lắm lần đưa tay bắt,
Nhưng không hề nắm được một lần;
Kỳ diệu thay vật thấy rất gần,
Vói lấy mãi bao lần không đụng.
Tuy quái lạ em không kinh khủng,
1120. Trái lại cho Phật dụng phép mầu;
Khi ấy lòng em rất tin sâu,
Sự đạo lý bắt đầu tinh tấn.
Tâm thường sáng hơn thường muôn bận,
Đêm đêm tai nghe giảng đủ lời;
Lẽ thạnh suy bĩ thới trong đời,
Đâu chánh giáo đâu nơi tà đạo.
Nghe không sót những lời châu báu,
Chơn Thần luôn đi dạo khắp phương;
Như nào là Địa ngục Thiên đường,
1130. Cảnh vui khổ đã từng thấy rõ.
Điều ấy rất ít người tìm có,
Em há không cho đó phi thường;
Vật sáng kia là Định Minh Cương,
Phật dùng để ngăn đường tà quái.
Hộ em lúc xác còn thơ dại,
Mà lòng tu sớm lại phát sinh;
Để khỏi loài yêu quỉ trá hình,
Hại mạng hoặc dắt khuynh đường ác.
Còn đến chuyện khi ngâm khi hát,
1140. Em thường nghe réo rắt bên tai;
Cũng là do nơi Đức Phật ngài,
Mượn lời ấy để khai đạo khí.
Có nhuần thắm được mùi đạo lý,
Giúp cho em thần trí sớm khai;
Để em dìu bá tánh sau này,
Được tỉnh giấc mê say lầm lạc.
Người của em từ hồn lẫn xác,
Hầu hết nhờ Đức Phật săm soi;
Giúp cho em tất giúp cho đời,
1150. Bởi em với mọi người hữu thệ.
Lúc ấy Phật rõ ngày hậu thế,
Dùng Định Minh Cương vệ thân em;
Có phải chăng mỗi lúc em xem,
Vừa hớn hở vừa thêm tin tưởng.
Phật khéo giúp sâu xa ảnh hưởng,
Đạo sớm nên, tâm lượng sớm khai;
Kẻ thọ ân to lớn thế này,
Há chẳng nhớ đêm ngày lo trả.
Nghe đến đây bồi hồi trong dạ,
1160. Nhớ lại khi thấy quả minh châu;
Mỗi đêm thường bay múa trên đầu,
Sáng chẳng chói xem lâu thấy mến.
Mỗi ngày ta chờ cho đêm đến,
Để cùng vui với ánh sáng xanh;
Lòng mộ tu lại gặp điềm lành,
Ta không xiết kính tin mừng rỡ.
Chuyện lạ tự lòng mình hiểu nhớ;
Không đem ra nói hớ cho ai;
Kể cũng là mười mấy năm dài,
1170. Nay được nhắc đến tai mới nhớ.
Ta vừa cúi đầu vừa lời mở,
Vật lạ kia thật có như lời;
Đây không nhờ vật ấy đến nơi,
Chưa ắt trở nên người tu niệm.
Thêm được có những lời chỉ điểm,
Tai đây thường nghe đến ngày đêm;
Khiến cho lòng tinh tấn càng thêm,
Trọng đạo đức hơn trên vật tạm.
Ân ấy khiến lòng đây quá cảm,
1180. Sớm hôm lo bái sám không rời;
Nói đến đây Đạo sĩ ngăn lời,
Rằng : em nhớ đang hồi khi ấy.
Em có viết một bài tấu khải,
ĐÃ gởi cho thập giái Phật Tiên;
Chứng cho em có những lời nguyền,
Gánh bớt khổ dân trên quả đất.
Noi Thất tổ chỉ đường tu Phật,
Nguyện đến loài súc vật côn trùng;
Nghe tiếng em hoặc thấy hình dung,
1190. Liền cảm mến phát lòng mộ đạo.
Ngày nào còn có người khổ não,
Em còn lo chỉ giáo không thôi;
Thà vui lòng cõi Phật mất ngôi,
Không vui bỏ một người nào khổ.
Em còn nguyện mẹ cha tông tổ,
Bảy đời qua được độ siêu thăng;
Khi nguyện rồi em có nhớ chăng,
Một ánh sáng bay băng ngang mặt,
Lại có mùi thơm tho nồng nặc.
1200. Lúc ấy em rởn óc cả người,
Vừa vui mừng vừa sợ oai Trời;
Không hình ảnh vô hồi mầu nhiệm,
Ánh sáng ấy Phật ngài chứng điểm.
Những lời em đã nguyện đấy ư.
Chẳng thành tâm nguyện đến bao chừ,
Cũng khó thấy được nơi điềm quí.
Ta liền thưa : thật là trúng lý,
Tâm của đây lúc ấy thật nguyền;
Nên cảm lòng của các Phật Tiên,
1210. Sau khi nguyện thì liền ứng chứng.
Từ ấy đây hằng lo bổn phận,
Sao vẹn tu? Sao trọn lời nguyền;
Rồi bỗng nhiên nầy đến bỗng nhiên,
Nhờ các đấng thiêng liêng chỉ bảo.
Đạo sĩ rằng thời cơ đã báo,
Phật Tiên thường mật giáo chư duyên;
Mượn xác phàm hoặc mượn bút nghiên,
Tùy cơ để dạy khuyên trần thế.
Mau hơn việc đầu sanh cơ thể,
1220. Độ chúng sanh khỏi trễ thời trời;
Mượn một tay đã độ một người,
Mượn nhiều xác tỉnh hồi nhiều kẻ.
Vừa phương tiện cũng vừa mau lẹ,
Đạo sĩ liền ngâm kệ như vầy:
1225. Hiện tại ở trên quả đất này,
Bất kỳ thông dốt gái hay trai;
Có duyên Phật, Phật sang dìu dắt,
Còn nghiệp ma, ma đến phủ vây.
Gieo giống xưa lâu nay vẫn nở,
Tạo nhân xa trước hiện đền ngay;
Lành thì lành đến, hung hung tới,
Quái lạ có nhiều cuộc trí vay.
Đạo sĩ luôn tiếp lời nhẹ bảo,
Nhân ngàn năm quả đáo nhứt thời;
Người lành duyên sẽ lắm vui tươi,
Thương kẻ ác vô hồi khổ nạn.
Sổ vay trả cuối năm thanh toán,
Nghiệp dữ lành rốt hạn chia phân;
Có duyên Thần thì được gặp Thần,
1240. Có duyên Phật sẽ trông thấy Phật.
Duyên ma quỉ tất ma quỉ dắt,
Giống nào thì nấy gặp không sai;
Cảnh trần gian quá đổi vần quay,
Nhiều sanh lạ nhiều người chết lạ.
Buổi Mạt thế quái kỳ nhân quả,
Để mắt vào dễ há không kinh.
Thêm có nhiều tà phép hữu linh,
Kẻ đã chết kêu tên sống dậy.
Tự chặt tay chân rồi ráp lại,
1250. Không đớn đau không chảy máu me;
Chúng có nhiều quỉ thuật bày khoe,
Kẻ mê tín nếu nghe thì khổ.
Nhiều kỳ chứng kể thôi vô số,
Thương bá gia không chỗ nào an;
Kẻ hiện sanh trên cõi trần hoàn,
Ai cũng phải nạn mang nhiều ít.
Trò văn vật càng nhiều khuyến khích,
Sự ác gian càng chất thêm cao;
Càng ăn sang mặc đẹp chừng nào,
1260. Hố tội lỗi thêm sâu chừng nấy.
Bên sau lẽ cạnh tranh thắng bại,
Chẳng ai lo lợi hại xác hồn;
Nhiều kẻ mưu thân được sanh tồn,
Trái lại tự làm hồn tiêu diệt.
Tuy đang sống mà người đã chết,
Nhưng họ không tự biết chi đâu;
Bữa tiệc ngon dễ bị lấy đầu,
Chẳng tìm hiểu cứ bâu cười múa.
Đem muôn kiếp đổi vui một bữa,
1270. Lại tự cho sáng suốt khôn ngoan;
Gi.i đục chui trong đám xương tàn,
Đâu bền bĩ đâu rằng êm ấm.
Nếu sanh chúng để lòng suy gẫm,
Thấy chán đời hơn đắm cảnh đời;
Chán lớp tuồng giả dối gạt người,
Chán thời cuộc lửa vùi mái trại.
Chán kẻ khôn vò đầu đứa dại,
Chán lòng người nỡ hại mạng người;
Chán bên trong xã hội hiện thời,
1280. Đầy tội ác nặc mùi hôi thúi.
Coi mạng người rẻ như cát bụi,
Chán thân mãn như củi trong lò;
Dù mưu cho phú quí bao to,
Không sống mãi để mà bảo vệ,
Chán cái kiếp vua quan dân thế,
Ai cũng đều nô lệ cho thân;
Nó khiến lo tính đủ thế thần,
Rốt cuộc chỉ ra phân cỏ ủ.
Những mặc đẹp ăn ngon sướng thú,
1290. Cũng chôn theo cốt rũ xương tàn;
Có cái nào còn được thế gian,
Kiếp tạm giả phải chăng đáng chán.
Làm tội ác không trường hưởng đặng,
Mang tiếng đời lại vấn nghiệp mê;
Hết thân nầy rồi kế thân kia,
Sanh tử mãi không hề ngừng đứt.
Chi bằng biết thân là tạm vật,
Chớ vì thân tạo nghiệp bất lành;
Hãy mượn thân lo việc tu hành,
1300. Ngăn dứt lối tử sanh luân chuyển.
Hiểu rõ kiếp người không trường viễn,
Nên đỡ nâng hơn chuyện gạt lường;
Phải thương nhau và phải hộ tương,
Hợp sức mở rộng đường sanh sống.
Chống bịnh tật đói nghèo cũng chống,
Không ai vui riêng sống một mình;
Giàu giúp nghèo quan giúp dân tình,
Mạnh giúp yếu khôn nên thương dại.
Buôn nhẹ lời cho vay nhẹ lãi,
1310. Sống cho mình còn phải cho người;
Đua nhau làm hiền đức tốt tươi,
Sẽ khiến chẳng còn người hèn hạ.
Đời đâu cũng bình yên thong thả,
Thù oán không chiến họa cũng không;
Khi thác hồn luôn được thong dong,
Lúc sống khắp người lòng yêu mến.
Điều nầy nếu mỗi người đạt đến,
Ấy là phương dĩ huyễn độ chơn;
Đem giả thân đổi lấy chơn thân,
1320. Gió nghiệp lặng sóng trần ngưng hạ.
Huống cõi thế sắp ngày tàn tạ,
Cái phàm thân như giá rựng đông;
Thân mất rồi muôn việc cũng không,
Luống mưu độc luống công làm ác.
Sớm tu ắt sớm ngày giải thoát,
Biết khổ lo cho được khổ qua;
Lửa cháy bao không chịu bước ra,
Như thế có phải là tự sát.
Chỉ một nhịn khỏi muôn lần thác.
1330. Đời ít ai chịu xét để làm,
Cứ lo ôm mãi cái lòng tham;
Tham phú quí tham đàng danh vọng,
Tham sắc đẹp tham nhà cao rộng.
Tham bạc tiền tham sống tư riêng,
Do lòng tham tội lỗi chẳng kiêng;
Đêm ngày cứ tiếp liên điều ác,
Giết hại người của tiền cướp đoạt,
Hưởng đôi hồi rồi thác như ai,
Vẫn cứ tham vẫn cứ mê say,
1340. Nối nhau mãi đời đời không dứt.
Cha chết rồi kế con cũng mất,
Cháu bỏ thây tới chắc chôn thân;
Chồng qua đời kế vợ tạ trần,
Vua chúa chết quan dân cũng chết,
Kẻ chết rồi lợi danh cũng hết,
Ai lại không rõ biết điều này;
Chẳng ngán ngao còn mãi mê say,
Mê qua, đến mê nầy mê tới.
Cha mê kế lại con mê nối,
1350. Từ xưa nay một lối đi hoài;
Thân tham danh tham sắc tham tài,
Tiêu mất cả có ai còn sống.
Trái lại do nơi lòng tham vọng,
Chịu biết bao khổ chốn Ta-bà;
Lòng tham nầy nếu nhịn được là,
Các việc khổ xảy ra sao được.
Đạo-sĩ tiếp kệ nghe thảnh thót:
1358. Lòng tham là gốc khổ,
Tham dứt khổ đâu có;
Việc tu chẳng nói nhiều,
Không tham là đạo ngộ.
Tham nầy là tham ác,
Không phải tham phước đức;
Nên càng nhiều lòng tham,
Càng khổ bao giờ dứt.
1366. Biết rằng tham là hại,
Nên khuyên khắp nhơn loại;
Nếu muốn được an vui
Lòng tham mau chừa cải.
Tại sao người lại tham,
Tại lòng mến thân phàm;
Nhưng phàm thân vốn tạm,
Tham mấy cũng không kham.
1374. Vì lòng tham danh lợi,
Nên khắp trên thế giới;
Chỗ nọ tới chỗ kia,
Chiến tranh thường dấy khởi.
Tôi phản chúa cướp ngôi,
Bạn hại bạn lấy lời;
Người giết nười đoạt của,
Do lòng tham khiến xui.
1382. Danh mất thân cũng mất,
Mất dân mất cả đất;
Bị người đời chê cười,
Cũng tại lòng tham ác.
Vì tham bị tham hại,
Người đời tham qua lại;
Cảnh khổ cứ triền miên,
Càng xem càng kinh hãi.
1390. Hiện trên mặt đất nầy,
Chiến họa ướm đó đây;
Mạng dân như hũ mắm,
Cũng lòng tham tạo gây.
Đã gọi tham là khổ,
Sự khổ kể vô số;
Biết nói sao cho cùng,
Tham tâm nên sớm bỏ.
Lời Đạo-sĩ tuôn như suối đổ,
Nói không ngừng ý rõ lời thông;
1400. Sau khi ngài ngâm kệ vừa xong,
Ta rằng : đúng như trong lời kệ.
Nếu khắp cả người trên dương thế,
Đồng dứt lòng tồi tệ tham lam;
Thì đâu còn có kẻ tục phàm,
Binh lửa khỏi tai nàn cũng khỏi.
Không ai rách cũng không ai đói,
Thế giới nầy hóa cõi Thần Tiên;
Từ thôn quê cho đến thị thiềng,
Đâu đâu cũng bình yên vô sự.
1410. Tự như nhiên dứt đường sanh tử,
Người là Tiên, Tiên thị là người;
Cũng sẽ không biển đổi non dời,
Nguơn nào cũng màu trời thanh bạch.
Đạo-sĩ rằng: em phân đúng cách,
Khắp người không tham tất thái bình;
Đâu có ngày đất ngửa trời chinh,
Người nào cũng là Tiên là Phật.
Điều nầy có lắm người nhận thức,
Nhưng thiếu lòng cương quyết thi hành;
1420. Nên bao lâu việc cũng chẳng thành,
Ta rất tiếc nhơn sanh ấy lắm.
Muôn kiếp khó hiểu chơn-lý đặng,
Khi hiểu rồi mà chẳng làm theo;
Chừng khi thân tan rõ như bèo,
Trí hiểu ấy làm sao kiếm lại.
Đâu mỗi kiếp mỗi làm người mãi,
Thảng sanh vào thế giới thú cầm;
Sống ngu đần sống kiếp tối tăm,
Trí minh mẫn đâu làm sao có.
1430. Huống nữa nếu sanh loài sâu bọ,
Hiểu biết càng thâu nhỏ lại hơn;
Sớm sanh chiều lại chết mất thân,
Câu chơn-lý đâu từng nghe được.
Sao lại cứ biết xuôi làm ngược,
Ấy phần đông nhân vật thế gian;
Khổ nàn thêm chất chứa khổ nàn,
Đem dầu chữa lửa đang mạnh ngọn.
Thần chết vẫn bên mình chờ đón,
Nay lầu cao mai chốn hố sâu;
1440. Mới vui say kế chịu thảm sầu,
Vừa cười đó kế âu khóc đó.
Chúng sanh thể cá nằm trong rọ,
Há không tìm đường ng. trốn đi;
Đợi đến người đem chặt vảy vi,
Mới lo liệu việc chi đã muộn.
Phải lo tu trước khi nước cuốn,
Rán làm lành lúc chẳng tai ương;
Đừng để khi gặp cảnh thê lương,
Mới trực tỉnh không phương nào kịp.
1450. Việc khi đến đến mau như nhíp,
Đừng rằng chưa thấy việc đổi thay;
Thấy trứng gà lành vỏ bên ngoài,
Chớ tưởng nó còn dài ngày tháng.
Trong trứng có gà con chờ sẵn,
Chỉ phút giây phá trứng chun ra;
Máy thiên cơ cũng thế đâu xa,
Vỏ quả đất vỏ gà rất giống.
Hãy xét kỹ rồi tu mau chóng,
Đến việc rồi hết dụng Nam mô;
1460. Người thường trông thấy việc đã phô,
Không biết được những đồ còn đậy.
Bầu hư không vô biên thế giới,
Ngày đêm luôn có cõi hoại tiêu;
Tợ trên cây bất luận sớm chiều,
Thường có lá úa xào mãi mãi.
Có hình thể tất là có hoại,
Quả đất cùng nhân loại như nhau;
Hết kiếp rồi thì cũng tiêu hao,
Chớ đâu phải sống lâu vô hạn.
1470. Vạn vật phải theo cơ chuyển hoán,
Có thứ nào giữ đặng trường tồn;
Chớ cho rằng đất rộng mênh mông,
Vững chắc mãi chớ không sao cả.
Lớn thế mấy rõ thời cũng rõ,
To dường bao khi hạ hạ ngay;
Người có xem cảnh sụp đất đai,
Tất hiểu được trong đôi phần đấy.
Nhà gạch lắc lư như nhà giấy,
Người té lăn khó chạy đứng yên;
1480. Rồi tự nhiên lửa dậy khắp miền,
Đất bằng bỗng sụp nên biển giả.
Ngoài tưởng tượng của người tất cả,
Việc nầy ai lại há không nghe;
Chúng sanh luôn sống phút không dè,
Lấy việc nhỏ để mà hiểu rộng.
Cơ tận thế khác nào đất động,
Một phút giây đâu cũng tan hoang;
Rán tu hành nầy bớ thế gian,
Chớ ngần ngại ắt mang tai ách.
1490. Vì thương chúng mới phân tách bạch,
Em nhớ đem trao hết cho người;
Khá gắng công chớ có biếng lười,
Ngày cứ đến bóng trời không đợi.
Lo trước để sau rồi khó hối,
Phúc đức là nguồn cội sanh tồn;
Phúc đức là then Cực lạc môn,
Chúng sanh rán lo nôn phước đức.
Thí không tiếc ấy là gọi phúc,
Thương người như thân tức đức ư,
1500. Không cần đem nói hết kinh thư,
Bao nhiêu đó đủ dời phúc đức.
Mong sanh chúng được lòng chân thật,
Làm việc chi cũng ắt thành công;
Nói rồi làm đừng bỏ nằm không,
Lớn hơi chậm nhỏ trong chốc lát.
Đạo sĩ liền ung dung cất hát :
1507. Bắc thang phước đức đăng Tiên,
Nắm dây thành thật leo lên Phật đài;
Quyết lòng tu một kiếp nầy,
Đạo mầu được đắc Như Lai được kề,
Nhẹ mình lướt khỏi sông mê,
Trái oan hết buộc não nề dứt xong;
Độ siêu cha mẹ tổ tông,
Độ luôn quyến thuộc khắp trong bảy đời.
Mình vàng có ánh sáng ngời,
Long Hoa hội được chung ngồi Phật Tiên.
Chuông đạo đức đánh lên khắp chốn,
Kẻ lành duyên phản bổn qui căn.
Các gông cùm thế tạo đều quăng,
1520. Phi thân đến cung Hằng cho thỏa;
Lúc mê muội gặp đường đạo cả,
Như đói lòng gặp quả đào Tiên.
Há lòng không mừng rỡ tu hiền,
Cởi mở hết oan khiên nghiệp báo;
Xưa tu mười mới là đắc đạo,
Nay một tu vẫn đáo Tây Phương.
Đức từ bi hỉ xả không lường,
Chúng sanh cũng khá nương đạo pháp;
Ngăn thói tục ngăn lòng ô tạp,
1530. Tập nói lành tập việc làm lành.
Quen thật thà hơn thói gian manh,
Cách đi đứng ngồi nằm đoan chánh;
Mang xác phàm tập cho lòng Thánh,
Giồi mài cho đúng hạnh chơn tu.
Ngày hai thời vẫn nhớ công phu,
Thà bỏ xác đường tu không bỏ;
Muốn cho ngọn tâm đăng sáng tỏ,
Sáu căn đừng cho gió trần vào.
Rèn nơi lòng bất luận lúc nào,
1540. Cũng trong lặng như thau nước lóng;

Tác giả bài viết: Thanh sĩ Thích Huệ Duyên
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Giới thiệu

Cách gởi bài viết về Ban Biên Tập

Nội quy đăng bài viết :Bài viết trước khi đăng phải hội đủ các điều sau :- Thứ nhất : Trang web chỉ có một mục đích đó là Hoằng Dương Phật Pháp- Thứ hai : Nội dung thuần tuý chỉ có quan điểm, kinh điển, Luật, Luận chính thống của Nhà Phật- Thứ ba : không liên quan bất...

Thống kê

  • Đang truy cập: 98
  • Hôm nay: 14391
  • Tháng hiện tại: 176134
  • Tổng lượt truy cập: 21939905
Xem bản: Desktop | Mobile