Nguyền mong thân cận minh sư, quả Bồ Đề một đêm mà chín. Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa Ưu Đàm mấy kiếp đâm bông.
Rss Feed

Vạn niên huynh đệ - Phần 6

Đăng lúc: Chủ nhật - 25/12/2011 12:20 - Người đăng bài viết: Tịnh Cường
Vạn niên huynh đệ - Phần 6

Vạn niên huynh đệ - Phần 6

Máy Đạo không xa xôi,Quay đầu lại thấy rồi;Thấy ra mau hay chậm,Là do sức tỉnh hồi. Thanh-Sĩ.

 

Vạn niên huynh đệ 06
****

Sớm ghét kế chiều thương trở lại,
2610. Ở thế gian chuyện ấy có thường;
Em ơi đời phức tạp không lường,
Nội hai chữ ghét thương đủ khổ.
Ghét dễ khiến nhúng trề môi mỏ,
Thương cũng gây vàng vỏ mặt mày;
Ghét với thương gia vị các loài,
Kể sao hết điều cay với đắng.
Gọi cõi tạm bao giờ lâu đặng,
Mà khách trần gian chẳng núng nao;
Trên non Tiên ngó xuống chừng nào,
2620. Lòng càng bắt xót đau chừng nấy.
Biết bao cuộc đất bằng sóng dậy,
Mà cũng chưa thấy mấy ai tu;
Chờ đến cơn trâu rống chó tru,
Cảnh thảm đến mới cầu khó cứu.
Gặp Phật giáo là điều hy hữu,
Người không nghe vì ngủ quá mê;
Do lòng thương mà phải dỗ về,
Chớ nào phải vì bề danh lợi.
Thương quá đỗi réo kêu ơi hỡi!
2630. Rất kính thay! Các giới từ tâm,
Đôi phen quên cả việc ăn nằm;
Vì lẽ quá bận chân phổ độ.
Anh còn nhớ ở vào đời nọ,
Có một ông tên Thố họ Chiêu;
Từ sau khi vọng niệm trừ tiêu,
Rời am tự châu lưu khắp chốn.
Đến đâu cũng khuyên soi tâm bổn,
Bởi tâm là chủ động các đường;
Khi thấy tâm như thấy trong gương,
2640. Tất sẽ thấy Phật tường tận mặt.
Vào thuở ấy rất nhiều người đắc,
Nhờ được y theo pháp ấy hành;
Một ngày kia ông tự biết mình,
Vào giờ ngọ mạng sanh sắp cuối.
Bữa cơm trưa cũng vừa dọn tới,
Kế có người hấp hối gần bên,
Ông thấy người ấy có căn duyên;
Sắp chết chẳng biết tên Đức Phật,
Ông bỏ ăn và liền lật đật,
2650. Đi đến bên người sắp ra ma;
Ông bảo nên niệm Phật Di Đà,
Phật sẽ đến dắt qua Cực lạc.
Người ấy y lời ông khuyên nhắc,
Bèn nhiếp tâm niệm Phật ba câu;
Liền hóa thân của Phật đến thâu,
Hồn ấy được vào chầu Phật quốc.
Ông liền trở về nơi am thất,
Ngồi ngay mình rồi mất tự nhiên;
Vì cứu người đã có Phật duyên,
2660. Không màng đến bữa cơm rốt mạng.
Tình yêu chúng sanh không giới hạn,
Độ đời cho đến đoạn cuối cùng;
Lòng từ bi trọn thỉ trọn chung.
Ai nghe đến lòng không thương kính,
Các Bồ Tát vốn đồng một tánh;
Tự giác rồi lo đến giác tha,
Lúc nào thời cũng vẫn bôn ba.
Lo cho thế hơn là lo phận,
Mảnh tình ấy chẳng bao giở bẩn;
2670. Cổ với kim cũng vẫn một màu,
Yêu đời bằng lối mở cùm lao.
Chẳng yêu cách chôn vào hang hố,
Yêu đời với tinh thần giác ngộ;
Độ khỏi mê chẳng bỏ cho mê,
Tay mặt đưa tay trái lấy về,
Chuyện lừa ấy chẳng hề nào có.
Đời lợi dụng nhau từ việc nhỏ,
Đạo vẫn đi ngược nó luôn khi;
Lánh tâm phàm hiểu tánh từ bi,
2680. Tất sẽ chẳng hề khi nào đúng.
Đừng nhắm một ít người lợi dụng,
Mà vội cho ai cũng dối tu;
Nguyên một loài như sấu với cù,
Phải hiểu khác chớ cho rằng một.
Cũng một đạo cũng người đồng lốt,
Nhưng tấm lòng xấu tốt khác nhau;
Tuy bề ngoài cùng một sắc màu,
Vàng chẳng giống như thau ten ố.
Khá quan sát cho tường tận chỗ,
2690. Chớ vội quơ đũa cả nắm sai;
Có trầm hương ẩn giữa rừng cây,
Hãy tìm lấy về ngay kẻo uổng.
Gặp hiền đức phải nên kính chuộng,
Đừng đụng đâu khinh bướng chê càn;
Em khá khuyên khắp hết thế gian,
Phải lọc lựa chấn hằng lời nói.
Kẻo lầm đến con người thượng cõi,
Sẽ chết không kịp trối một lời;
Có các Thần trà trộn khắp nơi,
2700. Giả đủ cách thử người dương thế.
Không lấy mắt xét xem đáo để,
Sẽ làm cho người dễ lạc lầm;
Thật tu hành hay giả đạo tâm,
Khi đó sẽ ló mầm ra hết.
Cũng xác người giống nhau như hệt,
Rất khó đem phân biệt Thánh phàm;
Thế cho nên khắp hết nữ nam,
Cẩn ngôn hạnh kẻo lâm khó gỡ.
Nhiều lúc kẻ hung mồm vừa mở,
2710. Máu liền trào giẫy giụa chết ngay;
Lối phạt răn của các Thần này,
Rất nghiêm khắc lâu nay ít có.
Tánh rất nóng còn hơn lửa đỏ,
Lòng luôn hờn ghét đứa hung hoang;
Có nhiều khi thấy kẻ tà gian,
Liền bẻ cổ số căn bất kể.
Nhờm kẻ ác tợ thùng dơ uế,
Thấy lũ tà mắt thể gai đâm;
Gặp thì trừ chớ chẳng ngại tâm,
2720. Các Thần Thánh hì hầm như thế.
Chớ vội thấy ngu khờ khi dễ,
Thường khiêm nhường nghĩa lễ tốt hơn;
Gặp thử mà không bị lầm thân,
Tất sẽ được các Thần theo hộ.
Giúp đỡ cho được đi tới chỗ,
Ngày như đêm chẳng hở phút nào;
Cứu hộ cho những buổi ốm đau.
Che chở lúc lâm vào tai ách,
Đạo sĩ liền chỉ tay vào vách;
2730. Một vị Thần hiện cách tự nhiên,
Vẻ oai phong tay chống gươm thiêng;
Liền cất giọng ngâm lên bài kệ:
Để bảo vệ hiền thể,
Để tội phước ghi kể;
Cho nên khắp nhà nhà,
Có ta ở môn bệ.
Vị thần chỉ mấy lời như thế,
Rồi biến đi không kể chi hơn.
Đạo sĩ rằng: ấy Kiểm Vệ Thần,
2740. Nhà nào cũng ẩn thân xem xét;
Việc tội phước ghi rành từ nét,
Tâu Thiên ĐÃnh xử xét chí công.
Mắt phàm nhơn thấy cửa vắng không,
Nhưng mà có Minh Thần ẩn ánh;
Nên nhớ, giấu việc làm bất chánh,
Kẻ thế gian chớ tánh dể ngươi;
Việc nầy em khá nhắc cho đời,
Đừng tưởng chỗ vắng người làm quấy.
Người chẳng thấy nhưng thần luôn thấy,
2750. Tội phước đều chớp lấy rành rành;
Phước thì ban còn tội thì hành,
Báo ứng rất phân minh từ chút.
Nhân thiện ác định cho họa phúc,
Từ cổ kim chưa lúc nào sai;
Khắp thế gian dù gái dù trai,
Rán sửa tánh thẳng ngay chơn chất.
Đầu đội trời còn chơn đạp đất,
Đất Trời luôn soi xét mỗi ngày;
Tuy lặng thinh mà rất có oai,
2760. Há chẳng sợ hơn người dương thế.
Oai Trời Đất nếu người kiêng nể,
Tất không gây tội lệ vào mình;
Tưởng chỗ nào cũng có Thần minh,
Sẽ không dám tạo tành điều ác.
Xưa có người tên là Bàng Đạt,
Thường xuyên nghề đạo tặc nuôi thân;
Có một hôm vào một nhà dân,
Đang rón rén vác khuân đồ đạc.
Nghe có tiếng động trên sàn gác,
2770. Bàng Đạt liền ngước mặt ngó lên;
Thấy nơi tran có tượng Phổ-Hiền,
Ẩn sau một ngọn đèn leo lét;
Lòng bỗng thấy vô cùng sợ sệt,
Rằng Phổ Hiền thấy hết việc mình;
Liền bỏ nguyên đồ đạt đang rinh,
Lui khỏi cửa đi êm một nước.
Vừa đi vừa nghĩ suy từ trước,
Cho đến nay những việc đã làm;
Chỉ giấu che được mắt người phàm,
2780. Chớ Thần Thánh đã xem thấy rõ.
Tự biết lỗi bắt đầu từ đó,
Nghề trộm liền dứt bỏ lo tu;
Sớm khuya bền một chí công phu,
Được Phật hóa thân thu về Phật.
Nhân tượng giả độ nên người thật,
Là chuyện người Bàng Đạt thuở xưa;
Trong nhất thời nghề trộm được chừa,
Nhờ tưởng có thần cơ quan sát.
Mọi vật có thể làm người giác,
2790. Nếu để lòng suy xét cho rành;
Bàng Đạt tuy là kẻ gian manh,
Biết hối cải còn thành được đạo.
Lấy tâm dám làm điều tàn bạo,
Đổi ra tâm dám tạo phước điền;
Tức nhiên là từ giới phàm duyên,
Leo đến bậc Phật Tiên chẳng khó.
Chỉ nhân một cái quày đầu ngó,
Được trở nên tỉnh ngộ nơi lòng;
Tội trộm xưa đều giũ sạch không,
2800. Còn thừa phước đức sang Phật quốc.
Trai với gái ở thời văn vật,
Há để thua Bàng Đạt xưa sao!
Xưa ngu khờ mà được giác mau,
Nay thông thái tại sao chậm tỉnh;
Xưa dốt nát nhưng giàu trí tín,
Nay khôn lanh nhưng kém tinh thần;
Chỉ hay ho với lối tục trần,
Không soi thấu được phần siêu việt.
Biết cái giả chớ không biết thiệt,
2810. Làm nhiều mà chẳng được hưởng lâu;
Óc thông minh đem để vào đâu,
Chẳng tìm biết cái nào chơn giả;
Cứ mưu nọ thế kia gây họa,
Gạt lừa nhau chiếm bã lợi danh;
Giỏi về mưu lấn đất cướp thành,
Việc xô xát dân tình là giỏi.
Mình muốn sống thì người khỏi nói,
Cũng hiểu lòng họ đối thế nào;
Vẫn biết yêu mạng sống như nhau,
2820. Đâu muốn bị người nào giết hại.
Mình tồn tại cho người tồn tại,
Nỡ dứt tình đồng loại sao đành;
Sống bằng phương xô xát nhơn sanh,
Cách sống ấy hôi tanh như thú.
Sống nhơn đạo sống tình cảm đủ,
Mới sống theo ý vị loài người;
Chỉ đấu tranh bằng trí bằng lời,
Cũng đủ lựa gì nơi nanh vuốt.
Dắt nhau đến chỗ gây chiến cuộc,
2830. ý vị loài người mất hết rồi;
Thay vì dùng nanh vuốt tranh mồi,
Dùng đao kiếm cướp xôi với bánh.
Mất hết cả cái g. thiên tánh,
Chỉ là loài mạnh đặng yếu thua;
Hiện nay như đống rác sắp đùa,
Kẻ bạo ác cũng chưa thấy thức.
Thế là họ phải đành yên giấc,
Theo ngày tàn của đất Hạ nguơn;
Chỉ thương người còn chút thiện duyên,
2840. Họ bị kẹp kềm hơn tự tạo.
Em khéo giúp hạng nầy biết Đạo,
Họ tỉnh rồi việc đáo đến nơi;
Việc cũng không còn phải xa vời,
Em chớ để người trôi mất uổng.
Nước có lên rồi thì có xuống,
Em đừng buồn đám ruộng ngập nhiều;
Thứ nào châm cạn rễ thì tiêu,
Mùa tiết phải chiều theo khó cải.
Ấy là cũng một phương lựa đãi,
2850. Quét sạch loài cỏ dại phá mùa;
Em buồn anh lòng cũng bắt chua,
Việc chi cũng do cơ tạo hóa.
Em thường trách sao hiền mang họa,
Còn đứa hung thong thả không sao;
Em nhớ rằng danh mộc chừng nào,
Càng chịu đục chịu bào chừng ấy.
Không chịu thế sao nên hình đấy,
Còn những nào cây vạy (6) đứng yên;
Ấy chỉ là đợi lớn thêm niên,
2860. Dùng làm cũi ra than là dứt.
Huống những kẻ hiền lành nhơn đức,
Cũng như nền của một ngôi nhà;
Những khó khăn những nỗi xót xa,
Là kèo cột rui đà cho đó.
Các vật nầy thảng như không có,
Cái nền kia suốt gió suốt mưa;
Ai đắng cay ai có giày bừa,
Em rán chịu chớ ngơ chí lực.
Trước sau vẫn lo câu đạo đức,
2870. Chớ quá buồn đành dứt xác trần;
Chúng sanh đang khô chốn mê tân,
Mạng sống tợ như đờn dây thẳng.
Lòng bác ái há ngồi yên đặng,
Cũng không đành nín lặng Tây Phương;
Huống lời xưa đã thệ tỏ tường,
Nay không độ đợi cơn nào độ.
Biết bao kẻ bơ vơ trên lộ,
Há không đưa tay trỏ đường về;
Thấy lạc lầm mình phải ủ ê,
2880. Tình ấy vốn trong lề nhà Phật.
Một khi để cho tình ấy mất,
Sẽ không trông thấy mặt Như Lai;
Bao kiếp qua khổ cực chẳng nài,
Há lại tiếc làm chi kiếp chót.
Chớ vô ý để người dừng gót,
Thưa bóng người cửa Phật chẳng nên;
Kẻ mến em khéo dắt họ lên,
Chớ để họ rớt chìm trở lại.
Không dễ có được lòng hăng hái,
2890. Để mất rồi khó tái được đâu;
Một khi người đã biết hồi đầu,
Đừng để họ lờn câu đạo lý.
Nếu họ trở nên lờn tâm trí,
Khó gọi cho tỉnh lại như xưa;
Kẻ tu do hoàn cảnh đẩy đưa,
Chừng bỏ đạo cũng do tình thế.
Những hạng ấy không nên nhắm kể,
Bởi họ theo thời thế ấy thôi;
Thời sớm yên thì họ tu dồi,
2900. Thời chậm đến họ trôi theo nước.
Họ bền được thì là rất phước,
Bằng không là tại ít căn duyên;
Cũng chẳng nên đem dạ trách phiền,
Bỏ luôn kẻ sâu duyên với Phật.
Nhờ có sự lễ nghi phong chất,
Loài người cùng thú vật khác nhau;
Muốn thế không đạo lý chặm vào,
Như nhuộm chẳng cầm màu bay hết.
Làm người để mất đi chính nết,
2910. Khác nào hoa mất hết mùi hương;
Xã hội nào không kẻ hiền lương,
Xã hội ấy mất đường thạnh trị.
Em khéo giúp người thông đạo lý,
Tất nước nhà trở lại an ninh;
Và chừng khi có cuộc vang thinh,
Khổ họa cũng chẳng sanh ra lớn.
Dân còn bước chơn hài chơn hớn,
Phần lớn do thiếu thốn đức tin;
Ấy là mầm tai họa đáng kinh,
2920. Khéo giúp họ được minh nơi trí
Dân trong nước không thông chơn ngụy,
Sẽ rối luôn khó trị cho yên,
Dân trí khi được mở sáng lên;
Đâu hư với đâu nên thấy rõ,
Cố nhiên nẻo tà liền tự bỏ.
Tự xếp mình vào ng. chánh chơn,
Muốn thế là theo lẽ trước hơn;
Phải phát mạnh tinh thần đạo đức.
Lấy đạo đức để tri giả thật,
2930. Như địa bàn chỉ Bắc với Nam;
Độ được ngay tất cả việc làm,
Giúp đỡ chẳng gian tham là chánh.
Lợi dụng hoặc gạt lừa bá tánh,
Ấy phải nên quyết định là tà;
Cứu mình rồi lo cứu người ta,
Ấy đúng thuyết Thích Ca đã dạy.
Độ mình chẳng độ người hoặc hại,
Quả quyết rằng tông phái của tà;
Cứ lấy đây mà xét rộng ra,
2940. Sẽ biết được đâu tà đâu chánh.
Tà là phải mau lo xa lánh,
Chánh thì nên phát mạnh lòng tin;
Nào luật nghi qui củ chặt gìn,
Xấu mấy cũng trở nên người tốt.
Trừ những kẻ chỉ mang có lốt,
Không chịu đem lòng thật hành y;
Dù bao lâu cũng chẳng nên g.,
Cây không uốn hình chi chẳng giống.
Người vốn lấy tánh quen mà sống,
2950. Cả món chi đều cũng do quen;
Dù tanh hôi dù quá thấp hèn,
Người ta có thể quen được cả.
Ví dụ sợ Trời khi quen dạ,
Không bao giờ dám hả miệng kêu;
Đến uống ăn cử động các điều,
Do quen tánh phần nhiều thành tật.
Thói quen rất là quan hệ nhứt,
Cho nên cần lựa tập thói quen;
Đừng cho quen những thói hư hèn,
2960. Nên tập sửa tánh quen nhơn đức.
Quen tha thứ quen lời chơn chất,
Quen thương người quen giúp gần xa;
Lòng cho quen thờ mẹ kính cha,
Thấy ai khổ cũng là quen cứu.
Quen niệm Phật như người quen rượu,
Quen thế nầy tội lỗi đâu sanh;
Đời cứ quen những việc bất lành,
Do đó tạo muôn ngàn tội ác.
Đã quen dữ đổi lành khó thật,
2970. Nhưng cố lòng tập riết sẽ quen;
Em khá mau đem hết lời khuyên,
Khiến người sớm lòng quen đạo lý.
Chớ thấy khó khăn mà nản chí,
Thú tập lâu còn múa nên nghề;
Thì loài người từ chỗ vụng về,
Tập mãi sẽ nên bề khéo léo.
Nay sự thế đã là mỏng mẻo,
Khá rèn lòng quen nẻo thiện lương;
Nếu không tin như giặc cùng đường,
2980. Xác hồn chẳng còn phương cứu gỡ.
Chớ vội nói việc chi không sợ,
Việc đến nơi hồn vỡ mật tan;
Quả địa cầu chỉ một tiếng vang,
Nhơn loại đủ xương tan thịt nát.
Bần với phú cũng ra tro mạt,
Mái tranh cùng nóc gạch ra bùn;
Kiếp trần gian như ấm nước đun,
Không thấy hết mà lần khô cạn.
Kẻ lớn nhỏ nên suy cho h.n,
2990. Để lo tu càng sớm càng nên;
Trên sen đài khi được đề tên,
Châu báu há dám đem so sánh.
Mỗi khi nghĩ đến Tây Phương cảnh,
Anh còn nôn muốn đến ở ngay;
Tại sao người trong cõi trần ai,
Chẳng lo trở gót hài về đó.
Chừng ngày hội Long Hoa mở ngỏ,
Đức Thế Tôn hiện rõ cảnh này;
Để cho người mong ước lâu nay,
3000. Được thấy rõ ở ngay trước mắt.
Ngày ấy cũng không còn xa xắc,
Anh đang chờ góp mặt vào đây;
Cùng chư Tiên thi thố phép tài,
Rõ công đức của ai nhiều ít.
Có nhiều Tiên ẩn nơi u tịch,
Muôn triệu năm cách biệt hồng trần;
Ngày ấy đều giá hạc đằng vân,
Xuống thế để chúc mừng Thánh Đức.
Kể sao xiết mùi thơm nồng nực,
3010. Mây đủ màu chói rực mười phương;
Các Thần Tiên dung mạo khác thường,
Mây đỡ gót long lân chầu chực.
Em cũng rán tạo thêm công đức,
Để cùng anh hiệp mặt chốn này;
Khi ấy em khéo độ gái trai,
Được đi tới hội nầy cho phỉ.
Kẻ trung hiếu với người liêm sĩ,
Cùng hạng người thành ý tu hành;
Và những người làm phước làm lành,
Đều có thể đồng sanh tới đó.
Phần thưởng ấy để dành cho họ,
Nhắc nhở cho họ nhớ kẻo quên;
Nói đến đây Đạo sĩ ngâm lên:
3024. Đến được hội nầy có mấy ai,
Nóc đền lợp lấy ngũ tường mây;
Bên mình Tiên trưởng ra muôn phép,
Trước ng. Thần linh hiển đủ oai.
Thú nói tiếng người không dấp dáp,
Sân chầu sen ngọc ngát hương bay.
Khéo dìu thiện tín về nơi ấy,
Em sẽ gặp anh ở hội này.
3032. Đạo sĩ dứt xong bài thơ ấy,
Ta rằng : xin nhớ lấy y lời;
Quyết đưa thân nầy với mọi người,
Đồng đi đến tận nơi hẹn ấy.
Dù cho phải khó khăn đến mấy,
Cũng không nao tâm trí đã nguyền,
Riêng lòng đây sau trước đồng nhiên,
Chỉ ngại chúng không nguyền một lối.
3040. Thảng như thế ngày Rồng Mây hội,
Một thân nầy trơ trọi đến nơi;
Mặt mũi nào dám ngó chín Trời,
Và thẹn hổ những lời Ngài dạy.
Vừa nghe Đạo sĩ liền chận lại,
Rằng: Em đừng lấy đó làm lo;
Nếu không thành như sự hẹn hò,
Lẽ ấy cũng là do người đấy.
Nếu em đã tận tâm khuyên dạy,
Chẳng nghe theo lỗi ấy tại người;
3050. Em lỗi chi mà thẹn chín Trời,
Cùng anh ngại trước nơi gặp gỡ.
Nhưng việc ấy chẳng bao giờ có,
Vì còn nhiều người nhớ đến em;
Họ đang lo rửa chỗ luốc lem,
Kẻ ấy sẽ cùng em đi tột.
Nước nhà họ cũng là rường cột,
Việc tu hành lại rất kỹ cang;
Họ sẽ đeo cho tới Niết Bàn,
Em chớ ngại một thân trơ trọi.
3060. Rất nhiều kẻ có căn thượng cõi,
Họ nhờ em được hối phần đông;
Những kẻ nầy trung hiếu đầy lòng,
Họ sẽ vẹn thỉ chung với đạo.
Theo anh thấy khí lành tiên báo,
Ngày chung qui thành đạo nhiều người;
Em gặp anh với vẻ vui tươi,
Chớ chẳng phải sầu vơi đâu nhỉ.
Vậy em chớ quá nên xa nghĩ,
Nghe hay không tự ý người đời;
3070. Lòng từ bi cứ nhắc chiều mơi,
Quên bụi cát quên trời mưa nắng.
Lấy đạo vị bán mùi cay đắng,
Thấy thương đời chớ chẳng thấy đau;
Xưa thơm tho nay vẫn ngọt ngào,
Tình bác ái chẳng bao giờ mỏn.
Câu thệ hải sơn minh gìn trọn,
Quyết độ người khỏi chốn nàn tai;
Lời thệ kia chẳng kết hình hài,
Vẫn còn phải chuyển lai không nghỉ.
3080. Em dụng hết tinh thần ý chí,
Kiếp nầy dìu hết kẻ thiện duyên;
Để sau khi qua cuộc biến thiên,
Em đến động anh thiền một lúc.
Cõi thế mặc cho người chen chúc,
Ngày vui qua đến phút khổ sang;
Đời Thượng nguơn muôn tuổi lạc nhàn,
Hạn kỳ hết cũng lần đến khổ.
Chỉ khi nào về nơi Tịnh độ,
Mới không còn sự khổ tái hồi;
3090. Thế nên dù sau cuộc lập đời,
Đạo Phật vẫn khắp nơi truyền giáo.
Tuy no ấm tuy đời quí báu,
Nhưng không ai bận bịu tâm vào;
Gái cùng trai bất luận người nào.
Tinh thần cũng vượt cao thường tánh,
Nhờ đó chẳng ai thèm tranh cạnh;
Đời sống trong phong cảnh Thần Tiên,
Cũng lầu vàng các ngọc muôn thiên;
Chỉ tạo để mà xem chẳng mến.
3100. Bề trí đạo rất là cao viễn,
Nên chẳng ai gây chuyện sai lầm;
Đây thật là thế giới Minh Tâm,
Người người vẫn nói làm một rập.
Sẵn hiền đức thêm lòng tu tập,
Cho nên siêu về Phật phần đông;
Buồm to thêm gió thuận xuôi dòng,
Đưa thuyền đến bến trong chốc lát.
Muốn hái trái có thang sẵn bắc,
Quả đào kia sẽ chắc vào tay;
3110. Nhờ thế mà người được sang đây,
Tất sẽ đến được Tây phương Phật.
Khắp trai gái sao còn mê giấc,
Khá lo tu để gặp đời tân;
Say đắm chi các thứ tạm trần,
Dục chưa mãn kế thân tàn tạ.
Sự thất vọng nhiều hơn thỏa dạ,
Ai cũng như thế cả khác đâu;
Nay gặp kỳ thiện ác đáo đầu,
Nỗi buồn khổ càng sâu gấp mấy.
3120. Người đời nay biết lo hối cải,
Theo đường lành mới phải khôn ngoan;
Tuy biết rằng vạn sự đầu nan,
Nhưng nếu được kiên tâm giai vị.

Tác giả bài viết: Thanh sĩ Thích Huệ Duyên
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Giới thiệu

Giới thiệu về Thiền Lâm

LỜI NGỎ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch chư Tôn đức Tăng Ni ! Kính thưa quý Phật tử và quý Thiện hữu tri thức ! Trong cuộc sống hiện đại, con người luôn bị thôi thúc, cuốn hút bởi rất nhiều thông tin từ mọi hướng nhưng không ai trong chúng ta lại không nhìn nhận rằng, công nghệ...

Thống kê

  • Đang truy cập: 33
  • Hôm nay: 6535
  • Tháng hiện tại: 342336
  • Tổng lượt truy cập: 23100242

Tin xem nhiều

Xem bản: Desktop | Mobile