Nguyền mong thân cận minh sư, quả Bồ Đề một đêm mà chín. Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa Ưu Đàm mấy kiếp đâm bông.
Rss Feed

Phụng Hoàng Cảnh Sách-Tập 5-Thỉnh nguyện Tăng-Đoạn 1

Đăng lúc: Thứ năm - 28/08/2014 17:20 - Người đăng bài viết: Diệu Thành
MỤC LỤC
Thỉnh nguyện Tăng
Đoạn 1
Đoạn 2
Thỉnh nguyện Ni
Đoạn 1
Đoạn 2
Câu chuyện buổi chiều
Đoạn 1
Đoạn 2

------------------------
 
Ngày 27-8 Bính Tý (9-10-1996)

Hôm nay tôi không nói chuyện xa xôi mà muốn rà soát lại trong chúng coi có thực hành bản Thanh qui không. Bây giờ hỏi toàn chúng, trừ Tri khố với Thủ bổn ra, có ai giữ tiền không? Nếu có đưa tay coi! Như vậy là không ai giữ tiền, thế mà tôi được nghe có người gửi cho mấy vị đi chợ mua món này món kia. Tôi không hiểu cái đó ở đâu ra. Đó là điều không hay.

Tôi giải thích cho quí vị hiểu vì sao trong Thanh qui có điều lệ này. Lâu nay tôi thường trách ở chùa thường xảy ra những việc bất công, ai có thân nhân, thí chủ tặng biếu tiền bạc hoặc đồ vật gì cũng được giữ xài riêng. Có người thân nhân hoặc thí chủ khá giả nên gửi cho nhiều thành ra dư. Có người thân nhân nghèo lại không có thí chủ nên sống một cách đạm bạc thiếu thốn. Đôi khi những người thiếu thốn nhìn thấy huynh đệ có tiền bạc dư dả liền để ý, khi nào huynh đệ sơ hở, để quên thì khởi lòng tham muốn lấy. Do đó xảy ra chuyện trộm cắp ở chùa. Đây là điều đáng ra không nên có, mà vẫn có, xuất phát từ sự bất công đó. Cùng sống trong chúng là những người đồng đạo, đồng tu mà kẻ dư, người thiếu thì dễ nảy sanh sự bất bình, rồi đi đến chuyện tham lam không tốt.

Qua kinh nghiệm đó, tôi cố gắng thực hiện cho được phép lục hoà. Trong Thanh qui có nói tất cả tài sản trong Thiền viện là của chung, không ai được quyền giữ phần nhiều hơn hoặc giữ riêng cho mình, đó là nói tổng quát. Trong giới thứ mười của Sa-di cũng có ghi là không được giữ tiền bạc. Vì vậy tôi muốn toàn chúng ở đây ai cũng là người giữ giới thanh tịnh, tối thiểu là mười giới. Đồng thời ai cũng là người sống hoà đồng với toàn chúng, không có sự hơn kém. Có vậy nếp sống đạo mới được tốt đẹp.

Khi chúng ta chủ trương lục hoà mà có người giữ chút ít của riêng là phạm giới. Lại còn gửi mua cái này cái kia ăn riêng là tội mích chúng, không hoà. Như vậy không tốt. Nếu một người làm được, những người khác cũng bắt chước theo. Vô tình mấy chú phá hủy những gì tôi chủ trương, phá hủy những gì tốt đẹp của Thiền viện. Trong khi tôi tán thán chúng ở đây sống lục hoà, giữ giới luật thanh tịnh, lại có một hai người không nhớ, không giữ, vậy là làm hư cả chúng. Điều đó mới thấy dường như nhỏ, nhưng thật ra rất hệ trọng, làm mất nề nếp nghiêm chỉnh của mình, rồi cũng giống như các nơi không hơn không kém.

Vậy nên có ai lỡ giữ tiền hãy đem nộp cho Thủ bổn, vì Thủ bổn là người giữ của chung. Giữ cho Tam Bảo thì không phạm giới, còn giữ riêng cá nhân xài là phạm giới. Mong rằng tất cả chúng hiểu được chủ trương, đường lối của Thiền viện mà xử sự cho đúng, đừng sai chạy. Nhiều khi quí vị gửi những người đi chợ, nếu họ không nhận sợ quí vị buồn, còn nhận thì họ áy náy. Cho nên ngang đây tôi tuyên bố hẳn: Nếu ai gửi tiền mua đồ riêng thì người gửi bị tội mười, còn người nhận bị tội năm, đó là tội đồng lõa.

Vậy để cho tốt đẹp, mỗi người nên cố gắng một chút, sao cho toàn chúng được thanh tịnh. Đừng vì một hai lý do nhỏ làm hư tập thể của mình. Không phải giữ giới không có tài sản riêng là được giải thoát, nhưng nhờ giữ giới đó khiến tâm mình an tịnh. Thí dụ: Có tiền liền muốn mua cái này sắm cái nọ, phải nghĩ ngợi, tính toán; còn nếu trong tay không có đồng xu thì có nghĩ gì đâu, cho gì ăn nấy, cần gì cứ đến Phó quản chúng hoặc Tri sự xin.

Tôi đã nói trước với toàn chúng rằng khi tôi còn sống đây, phần lo cho chúng, tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn không để cho quí vị thiếu. Và quí vị cũng đừng vì quyền lợi cá nhân mà giữ riêng không tốt. Dù ai tặng cho một hai trăm ngàn cũng đem giao Thủ bổn, để nói lên tâm hồn cao thượng của mình, không tham ái tiền bạc. Nếu không thì từ tham ái tiền bạc sẽ sanh ra nhiều cái tham khác.

Đừng nghĩ cái gì của thân nhân cho mình cứ giữ riêng, không đúng. Nếu thân nhân hay thí chủ phát tâm cúng vài chục ngàn, mình nên cho họ biết luật của Thiền viện là không được giữ riêng, nếu phát tâm nên cúng chung toàn chúng, đừng cúng riêng. Người ta nghe sẽ hiểu, từ đó họ có tâm rộng rãi hơn, không thiên về một người.

Một điều khổ tâm trong nhà đạo là thí chủ hay Phật tử khi thấy ông thầy nào sáng sủa dễ thương là cứ nhét cho, gửi cho, cúng riêng. Thấy ông thầy nào hơi đen đúa, nói năng khô khan thì không thương, cũng không cho gì hết. Từ tâm phân biệt riêng tư như vậy, lần lần khiến cho trong đạo nảy sanh những cái dở.

Bởi vậy, chúng ta phải làm sao tập cho người Phật tử có cái nhìn bình đẳng. Trong chùa cùng tu cùng học với nhau thì công đức ngang nhau. Muốn giúp nên giúp chung, không muốn giúp thì thôi, đừng có tâm phân biệt vì cá nhân. Tâm niệm bình đẳng đó khiến cho Phật tử nhìn người trong đạo với cái nhìn đẹp. Nếu mạnh ai nấy nhận rồi xài riêng sẽ tạo sự sai biệt trong chúng, từ đó dễ sanh ra những chuyện bất hoà.

Tôi mong rằng trong toàn chúng, ai đó có giữ tiền riêng đem ra giao cho Thủ bổn, cúng hết vô của chung, khi nào bệnh, hoặc có duyên sự đi đâu thì Thủ bổn xuất tiền. Ăn mặc đã có đủ, còn cái gì phải lo, phải bận tâm? Ở đây ai bệnh, thuốc men dầu mắc hay rẻ, Thủ bổn cũng phải xuất. Phải chi Thủ bổn giới hạn, chỉ xuất tiền từ bốn năm trăm ngàn trở xuống, không được vượt quá, rồi quí vị lo sợ bệnh nhiều, không đủ điều kiện chữa chạy nên phải giữ riêng. Ở đây không như vậy, Thiền viện bao thầu tất cả. Những khó khăn của quí vị Thiền viện đều chịu trách nhiệm bảo bọc hoàn toàn, thì có lý do gì mà giữ riêng?

Giữ riêng là điều không tốt, làm hư mình, hư người khác nữa. Tôi mong toàn chúng phải có cái nhìn sáng suốt và bình đẳng, đừng nhìn thiên vị không hay. Đó là lời tôi nhắc nhở hôm nay, mong toàn chúng nhớ để cố gắng thực hiện.

Ngày 13-11 Bính Tý (22-12-1996)

Qua một tháng rưỡi tôi vắng mặt, quí vị có ít nhiều sai sót, điều đó cũng đáng buồn. Lý đáng không nên có những cái dở đó, mà thỉnh thoảng cũng có, đây là điều không hay.

Bây giờ tôi nhắc nhở thêm trong chúng để nhớ tiến tu. Tôi muốn nói đến đức hỉ xả của người tu. Tất cả chúng ta tu theo Phật, bốn chữ từ, bi, hỉ, xả là bốn hạnh mà người tu không bao giờ được thiếu. Tôi chắc rằng hạnh từ bi quí vị ai cũng có, nếu không có thì không thể nào đi tu được. Còn đức hỉ xả tôi thấy quí vị còn lơ là, chưa thực hiện được.

Tại sao phải nói hỉ xả? - Vì tất cả chúng ta ai cũng có những thói quen, tập khí cũ. Bởi vậy khi sống chung trong một tập thể đông người không làm sao tránh khỏi va chạm, từ ý kiến đến hành động đều không giống nhau nên dễ sanh bực bội, chống đối. Nếu có bực bội, chống đối là gốc của phiền não, của tham sân si chớ không phải gốc đạo đức. Bởi vậy Phật dạy chúng ta tu là phải tập đức hỉ xả. Dù gặp điều gì quá lắm đi nữa mình cũng vui vẻ bỏ qua. Có người xúc phạm đến danh dự, quyền lợi, xúc phạm đến bản ngã cá nhân, mình cũng phải khéo bỏ qua, bỏ một cách vui vẻ chớ không phải gượng ép.

Chúng ta nên nhớ mình đã là người tu, khi bị xúc phạm là cơ hội thử thách để coi mình còn phiền não nhiều ít. Cho nên gặp những trường hợp đó, mình cứ nghĩ đây là dịp tốt để vươn lên, do đó vui vẻ dẹp bỏ tự ái, bản ngã để tiến tu, đó là khéo tu. Vậy là mình đã vượt lên một lần phiền não. Còn nếu không khéo có cái gì xảy ra liền bực bội, nhiều khi không nói ra lời nhưng cứ ấp ủ trong lòng, như vậy cũng chưa có hỉ xả. Tôi khuyên tất cả quí vị, khi gặp những điều trở ngại, ý kiến bất đồng, nên giải quyết qua rồi bỏ, sau đó vui vẻ chớ không nên ôm ấp bực bội. Nếu không nó sẽ làm chướng cho sự tu, không có lợi gì hết mà còn có hại.

Đối với người tu, đức hỉ xả thật là thiết yếu, giúp mình vượt qua tất cả những chướng ngại trên đường tu. Bất cứ tập thể nào cũng có sự va chạm, chống trái nhau, hoặc lớn hoặc nhỏ, vì trên đời không ai giống ai cả, nhưng mình nên xem đó là cơ hội tốt để thấy được mình rõ hơn. Nếu sống ở nơi mọi người đều tâng bốc, quí kính mình thì không bao giờ tập đức hỉ xả, tu hạnh nhẫn nhục được. Vì vậy trong chúng, nếu thấy có những điều huynh đệ làm trái ý nên xem đó là việc rất thường, là cơ hội tốt để nhìn lại coi mình có còn sân si, bực bội hay không. Nếu còn, đó là đạo đức mình chưa sâu, chưa cao. Đừng thấy còn hờn giận là hay, nghĩ như vậy là không biết tu, không biết tiến trên đường đạo.

Cho nên tất cả người tu chúng ta đều phải khéo xoay lại mình khi có việc đụng chạm với nhau. Có những chuyện có thể thành tóe lửa, nhưng nếu chúng ta biết vui vẻ, xả bỏ, không có một ý niệm hờn trách, thì đó là một bước tiến đáng kể của mình. Đừng nên cố chấp, cố chấp là trái đạo lý.

Ngày nay chúng ta sống trong chúng, ai cũng giữ luật giữ giới như nhau mà còn có những va chạm, huống nữa mai kia ra làm Phật sự, đâu phải việc gì cũng toại nguyện như ý hết. Chúng ta sẽ gặp những khó khăn, nếu không khéo hỉ xả, không bỏ qua được tất sẽ bực bội rồi sanh phiền muộn, làm sao vuông tròn Phật sự được?

Cho nên có lần tôi nói với đại chúng: Tôi không thích chúng nhập thất miên viễn, bởi vì ở trong thất lâu, tự thấy mình thanh tịnh rồi hài lòng với sự thanh tịnh đó. Đến khi ra thất, gặp những điều trái ý dễ sanh bực bội, thành ra vẫn còn bị kẹt, không có lợi gì. Lâu lâu mỗi người được nhập thất một thời gian rồi ra sống với chúng, với huynh đệ để thử coi sự tu, đạo lực của mình có vượt qua các trở ngại hay không. Nếu vượt qua được mới tin rằng đạo đức của mình khá, có tiến.

Vừa rồi đi nước ngoài, tôi cho Phật tử tham vấn, có người hỏi rằng:

- Thưa Thầy, có nhiều vị nói rằng mình tu chứng cái này, đắc cái kia. Vậy lấy gì làm thước đo để tin được người đó thực tu thực chứng?

Tôi trả lời:

- Phật dạy có cây thước tám gió: lợi, suy, hủy, dự, xưng, cơ, khổ, lạc. Chừng nào tám gió thổi không động thì người đó là thứ thật, còn nếu mới một gió mà nổi sân si lên, đó là giả hiệu.

Quí vị lấy cây thước đó đo coi mình giả hiệu hay thứ thật, nếu còn bị các thứ gió làm quay cuồng, tức chưa phải thứ thật.

Đôi khi giới tu sĩ chúng ta có người hay khoe đắc cái này, chứng cái nọ mà khi gặp việc bệnh nào tật nấy y nguyên. Do đó Phật bảo phải lấy tám gió làm cây thước đo. Nếu chúng ta thật là người đạt đạo thì tám gió đến không lay chuyển nổi, còn chúng ta tu chưa tới đâu, chỉ một gió đã bay rồi. Đó là lẽ thật. Cho nên trong chúng quí vị đừng ngỡ rằng giờ phút này tâm mình thanh tịnh là sẽ thanh tịnh hoài. Không phải vậy đâu! Khi nào đối diện với bát phong mà không lay động mới là thanh tịnh thật!

Sống yên trong chúng thì thuận nhiều, nghịch ít. Còn khi ra đương đầu với bên ngoài, không phải mình nói đâu mọi người nghe đó, có khi họ tán thành, có lúc họ chống đối. Làm sao khi họ thuận nghe mình hoan hỉ, lúc chống lại mình cũng hoan hỉ, không bực bội gì thì làm Phật sự mới vuông tròn được.

Thật ra đời tôi những khi đi làm Phật sự đâu được suôn sẻ như Tăng Ni, Phật tử tưởng, không phải tới đâu người ta cũng tán thán, công kênh mình, có những trường hợp họ cũng chống đối. Mình không thắng được các gió thì Phật sự không bao giờ vuông tròn.

Chúng ta là người chịu trách nhiệm, vừa phải cố gắng tu cho đạt đạo, vừa đem chánh pháp truyền bá cho mọi người. Vì trọng trách đó nên phải tập rèn cho đủ những đức tánh tốt, nhất là đức hỉ xả, để vui trong những chướng ngại, buông hết không bận lòng. Được vậy, việc tu và Phật sự của mình mới có kết quả. Nếu còn ôm ấp phiền não thì tu không được, làm Phật sự cũng không thể thành tựu. Bởi vậy tôi muốn ai cũng có trách nhiệm khi được giao việc này việc kia, đồng thời để ý tự xét coi tâm mình đã an ổn chưa hay còn có gì gút mắc, để cố gắng cởi mở, đừng cho kẹt nữa.

Quí vị đừng nghĩ rằng ở trong chúng cực quá, kiếm cái thất riêng ở tu, nghĩ vậy là hết sức sai lầm. Có một cái thất riêng thì dễ rồi, nhưng còn bao nhiêu thứ chuyện phức tạp khác. Như mình nhập thất mà người hộ thất đến trễ cũng thấy hơi buồn, ở trong thất nghe bên ngoài có gì lao xao, lộn xộn cũng lắng nghe, gặp hộ thất liền hỏi. Điều đó chứng tỏ mình chưa an ổn, còn mắc kẹt bên ngoài.

Bởi vậy phải làm sao trong lúc tu giữa huynh đệ với nhau, chúng ta vẫn mừng là mình rất có diễm phúc được sống trong một tập thể tốt lành như thế này. Đồng thời mình cũng hân hoan rằng trên đường tu có thầy có bạn, khi sai sót có người nhắc nhở. Nếu ở trong thất một mình, có sai sót ai biết, ai nhắc nhở? Rốt cuộc mười năm, hai mươi năm trong thất ra rồi những thói thế tục cũng chưa dẹp bỏ được. Nhiều người hiểu lầm, cứ tưởng vô thất là tu hay, không ngờ đôi khi có lợi, đôi khi không. Nhất là nếu ở trong thất lâu, tu có cái gì lạ lạ, mình không biết dè dặt thận trọng, đem khoe nói tùm lum khiến cho tổn đức, rồi sanh ra những thương tổn khác không lường được.

Cho nên ở đây tôi hết sức dè dặt. Trong chúng mỗi khi có gì tiến bộ, tôi mừng, vui rằng trên con đường làm Phật sự hướng dẫn Tăng Ni tu hành được một chút tiến bộ. Nhưng tôi vui trong dè dặt, không bao giờ dám khoe với ai, chỉ thỉnh thoảng nói chút ít để người ta vững lòng tin đối với sự tu hành của Tăng Ni ở đây. Tuy nhiên, tôi không bao giờ đề cao một cá nhân nào, chỉ thầm lặng để cho tất cả yên tu. Nhờ đó mà đức hạnh Tăng Ni càng ngày càng sáng hơn, đầy đủ hơn.

Trong một tập thể, nếu tất cả huynh đệ đều có chí hướng quyết tu là điều đáng mừng. Chúng ta sống bên thầy bên bạn, khi làm gì sai trái liền có người nhắc nhở, chỉ bảo, do đó đời tu của mình càng ngày càng vững vàng, cứng cỏi hơn. Đây là điều hết sức thiết yếu. Đừng lầm lẫn cho rằng mình ở thất riêng tu hay được một trăm phần, còn ở chúng thì thua sút. Đừng nghĩ như vậy, không đúng lẽ thật. Tôi đã thấy nhiều người nhập thất năm năm, mười năm rồi ù lì, trì trệ không được gì, nhiều khi còn có những cái chướng làm trở ngại lớn lao cho đường tu nữa.

Bởi vậy trong chúng mỗi người phải ý thức rằng, chúng ta sống trong tập thể nên hỉ xả, mở lòng rộng rãi, bao dung với nhau. Huynh đệ người ý kiến này người ý kiến nọ, điều hay thì dùng, việc dở bỏ qua, không hờn giận trách móc gì nhau. Ai cũng có quyền góp ý kiến, nhưng cái gì hay mình làm, dở thì thôi. Đừng thấy có ý kiến trái mình rồi sanh bực bội là không tốt. Đó là tâm chưa được bao dung rộng rãi.

Thật ra khi tôi làm Phật sự có cả năm trăm, bảy trăm Tăng Ni ở dưới, nếu tôi có tâm bực bội như vậy thì sẽ phiền não suốt ngày, không bao giờ yên được. Người ta ai cũng có bệnh riêng, nếu họ khéo biết hoặc mình nhắc cho sửa sẽ trở nên tốt. Không nên vì một, hai tật xấu của họ mà bực bội.

Nhưng ở đây, chú nào xin đi tôi không có một lời khuyên ngăn giữ lại. Như vậy có thiếu lòng từ bi hay không? Thật ra, tôi nghĩ tôi đã làm hết sức mình, đã tròn trách nhiệm của tôi, cố gắng bảo bọc mà họ không cảm thấy ưng ý, bằng lòng ở đây thì thôi. Nếu cố giữ chỉ làm họ thêm phiền não, không có lợi, lại khiến họ đâm ra cao mạn, tưởng rằng mình quan trọng. Bởi vậy, nếu ai muốn đi, tôi sẵn sàng cho chớ không khuyên ở lại. Không bao giờ tôi bắt buộc một người nào ở lại để làm việc gì riêng cho cá nhân tôi.

Toàn chúng phải hiểu được ý nghĩa đi tu là hi sinh cả một cuộc đời để làm điều cao thượng, quí báu chớ không phải làm chuyện tầm thường. Muốn đời mình trở thành cao thượng, quí báu thì phải ráng tập có tâm bao dung, rộng rãi, hỉ xả, bỏ qua hết những lỗi lầm của huynh đệ để lòng mình rỗng rang trong sáng. Nếu còn cố chấp, tâm mình sẽ trở thành hẹp hòi, thiếu độ lượng. Ở trong chúng chỉ bốn mươi, năm mươi người mà mình không kham chịu nổi, khi ra đương đầu với cả muôn, ức người làm sao an nhẫn được? Cho nên phải ráng! Khéo biết xả bỏ những phiền não đang chất chứa trong lòng, sống vui hoà hợp với nhau để cùng tu hành, cùng lo Phật sự, đó là người quyết chí tu. Ngược lại, nếu ôm ấp những điều riêng tư, hờn giận nhau rồi làm trở ngại đường tu, mai mốt lui sụt thì phí cả một đời mà kết quả không đến đâu.

Vậy hôm nay nhân ngày thỉnh nguyện, tôi nhắc toàn chúng từ lớn đến nhỏ tập sống với tâm rộng rãi, bao dung. Không nên vì một vài hành động nhỏ nhặt của huynh đệ mà đâm ra chán nản, bực bội, thối thất. Phải luôn tha thứ, hỉ xả cho nhau để cuộc sống được hoà vui, tu hành càng tiến, như vậy mới xứng đáng mang trọng trách tự giác, giác tha. Nếu không được như vậy sẽ uổng phí cả một đời tu cao quí của mình. Đó là lời nhắc nhở của tôi.

Ngày 13-12 Bính Tý (21-1-1997)

Phần thỉnh nguyện đã xong, tôi có ít lời nhắc nhở chư Tăng tinh tấn tu hành.

Vừa rồi có Phật tử hỏi tôi:

- Thưa Thầy, người tu theo Thiền tông có nhân duyên gì để khởi tâm từ bi?

Tôi trả lời rằng:

- Người tu theo Thiền tông khi có tỉnh, có giác rồi tự nhiên khởi tâm từ bi. Bởi vì trong nhà Phật luôn luôn dạy người xuất gia chúng ta phải là người chèo thuyền Bát-nhã để cứu vớt chúng sanh đương chìm đắm trong biển mê, đưa họ lên bờ giác ngộ. Đó là trọng trách của người tu. Khi chúng ta tu có được những lợi ích, những phút tỉnh giác, mới thấy sự quí báu, cao siêu của đạo. Khi ấy không cần khởi niệm từ bi mà tự nhiên chúng ta vẫn thương những người đang sống trong mê lầm.

Tôi ví dụ như chúng ta ngồi chơi, người bạn bên cạnh đang ngủ mê thấy mộng dữ la khóc, lúc đó chúng ta làm sao cứu họ? Chỉ cần lay gọi cho họ tỉnh, khi thức rồi thì mộng dữ tan mất. Cũng vậy, chúng sanh đang mê lầm đắm chìm trong biển khổ, trăm ngàn muôn ức điều khổ dồn dập, người nào cũng than thở đau khổ, trong khi chúng ta tỉnh giác rồi làm sao nỡ để họ mặc tình chịu khổ đau! Cho nên lúc nào chúng ta cũng sẵn sàng lao mình vào cảnh khổ để đánh thức, lôi họ dậy đừng mê lầm nữa.

Như vậy mê là nhân của đau khổ. Cho nên người tu thiền hay tu theo đạo Phật chỉ cốt được giác, giác mới hết khổ. Không phải tu để được một chút bình yên hay vui vẻ trong cuộc sống rồi cho đó là đủ, mà tu cho tới giác ngộ. Nếu chưa giác ngộ cao siêu thì ít ra cũng giác ngộ từng phần. Nhờ đó mình nhìn lại mới thấy chúng sanh là đáng thương.

Thí dụ chúng ta ngồi thiền, một niệm dấy lên liền biết nó hư dối nên gọi là vọng tưởng, không theo, đó là tỉnh, là giác. Bởi vì từ ngàn xưa đến nay chúng ta cứ tưởng niệm khởi là mình nghĩ, mình tính nên chạy theo, chấp nó là mình, tạo nghiệp rồi thọ khổ, đó là mê. Ngày nay biết tu, thấy rõ các niệm chỉ là bóng dáng duyên theo trần cảnh mà dấy khởi, không phải tự có. Thấy rõ như vậy, biết nó là ảo ảnh hư dối, mình không theo, tức không bị lầm mê. Thấy biết được vọng tưởng là tỉnh, là giác. Tuy chưa tỉnh giác trọn vẹn nhưng vẫn luôn luôn đi theo đường tỉnh giác không lạc đường mê.

Như vậy chúng ta tu thiền cốt làm sao tới phút giây nào đó những mê lầm vọng tưởng không còn quấy nhiễu nữa, trí tuệ trong sáng hiện tiền, đó là giác. Tuy giác chưa tròn nhưng vẫn được một đôi phần. Từ đó chúng ta mới thương những người đang sống mê trong cuộc đời tạm bợ này, họ đã gây không biết bao thứ nghiệp là nhân của khổ đau. Do đó chúng ta mới đem hết các phương tiện để cứu vớt họ.

Cho nên chư Tổ thường nói, người tu là kẻ đưa đò. Chèo thuyền Bát-nhã cứu vớt người trong biển mê đưa lên bờ giác, đó là hình ảnh cụ thể nói lên sứ mạng của chúng ta. Như vậy trọng tâm của người tu không gì ngoài giác ngộ. Tất cả đau khổ của chúng sanh đều bắt nguồn từ cái mê. Trong kinh có một đoạn Phật dạy: Người bị thiêu đốt trong địa ngục chưa phải khổ, bị làm ngạ quỉ đói khát chưa là khổ, bị làm trâu bò kéo cày kéo bừa nặng nề, người ta đánh đập cũng chưa phải là khổ, chỉ có kẻ si mê không biết lối đi, đó mới là khổ.

Như vậy, cái khổ Phật nói không phải ở địa ngục, làm ngạ quỉ hay súc sanh. Chính si mê mới là nguồn gốc của đau khổ. Nếu còn si mê thì lục đạo luân hồi hay ba đường ác chực sẵn, chúng ta ra vào liên miên không dừng, không dứt. Đó là nỗi khổ triền miên muôn kiếp. Vì khổ đọa địa ngục, làm ngạ quỉ còn có ngày hết, còn si mê thì trầm luân mãi mãi. Bởi vậy trong mười hai nhân duyên, đức Phật chỉ rõ cái nhân đầu đi trong sanh tử là vô minh, si mê, mờ tối, không biết lẽ thật. Từ vô minh mới có hành v.v..., cứ vậy mà vòng quanh luân chuyển không cùng không tận.

Bây giờ muốn thoát khỏi vòng luân hồi sanh tử đó chúng ta phải dừng lại. Muốn dừng phải dùng giác, giác mới phá được vô minh. Nếu không giác thì vô minh không bao giờ phá được. Như vậy trọng tâm của đạo Phật lấy giác ngộ làm cứu kính chớ không phải cái gì khác. Giác ngộ rồi mới thương tất cả chúng sanh, đó là từ bi, như tôi dẫn ở trước.

Ngày xưa đức Phật đi tìm đạo, Ngài chỉ chuyên tâm gắng sức tu cho được giác ngộ. Giác ngộ rồi Ngài mới đem chánh pháp dìu dắt người gần kẻ xa, ngót bốn mươi chín năm tiếp tục rộng truyền con đường giác ngộ đó, không có việc gì khác. Như vậy lòng từ bi của Phật phát triển mạnh mẽ sau khi Phật đã giác ngộ rồi, từ đó Ngài mới sẵn sàng hi sinh đời mình để truyền bá chánh pháp, truyền bá con đường giác ngộ cho chúng sanh.

Cho nên ngày nay chúng ta tu ở đây, phải dốc lòng cố gắng đi đến chỗ tỉnh giác, không phải tu để có phước nhiều, đời sau trở lại hưởng. Nếu chúng ta tỉnh giác ít thì lòng từ bi ít, tỉnh giác nhiều lòng từ bi nhiều. Không phải mình tu tập pháp riêng để có lòng từ bi. Ở đây tôi giản trạch rõ, trọng tâm tu thiền, nhất là Thiền tông, chỗ cứu kính là giác, từ giác mới có tâm từ bi. Còn tu theo thiền của Nhị thừa hay Nguyên thủy thì dùng quán trợ duyên để thành tựu từ bi, tức là Từ bi quán. Từ bi quán là mình ngồi tu, tâm yên tịnh rồi chan rải lòng từ đến người thân như cha mẹ, anh em, rồi lần lần đến người sơ, tức là những người hàng xóm chung quanh, những người không quen biết, sau cùng rải lòng từ đến người thù của mình.

Vậy người tu thiền Nguyên thủy lấy Từ bi quán làm trợ nhân phát triển tâm từ bi, còn mình tu theo Thiền tông không dùng lối quán đó, chỉ khi nào thật ngộ, khởi niệm thương kẻ mê, rồi lo cứu giúp họ. Trong lúc tu, chúng ta không tạo duyên gì để khởi niệm từ bi hết, nhưng khi chúng ta tỉnh giác rồi thì lòng từ bi đó được thể hiện đầy đủ, thực tế.

Dùng Từ bi quán khởi niệm thương người, đem phước đức của mình chia sớt cho họ, là do tâm tưởng bủa khắp. Còn bên này khi giác rồi, thấy người mê mình thương, giúp họ một cách thực tế, tạo duyên, tạo điều kiện để đánh thức họ thật sự. Đó là hành động từ bi, không có khởi niệm, thương một cách tự nhiên chớ không phải thương do quán tưởng.

Từ đó chúng ta nghiệm xa hơn chút nữa, như hiện giờ chư Tăng, chư Ni thường nói bận rộn nhiều Phật sự. Nhưng mình đặt câu hỏi lại, Phật sự là cái gì? Các việc cúng đám, làm tuần... có phải là Phật sự không? Nếu chúng ta cho như vậy là Phật sự thì đó là điều làm giảm giá trị của đạo Phật. Vậy thời Phật không cúng đám, làm tuần... là Phật không làm Phật sự sao?

Vậy mới thấy từ ngữ “làm Phật sự” thường dùng không có bản chất thật. Vì nói tới Phật là nói tới giác, làm việc giác ngộ mới gọi là Phật sự.

Cho nên Phật dạy Tăng Ni đi giáo hoá nơi này, nơi kia để đánh thức mọi người. Người nghe biết tỉnh giác thì đó là Phật sự. Chúng ta phải hiểu cho tường tận để đừng lầm lẫn ý nghĩa Phật sự rồi hài lòng đi làm mãi những việc không đáng mà chẳng chịu lo tu, rốt cuộc đời mình không giác, làm sao giúp người giác được.

Không làm cho người giác được thì dù chúng ta làm trăm ngàn việc, có gọi là Phật sự không? Đó là điều tôi muốn nhắc cho tất cả quí vị hiểu tường tận, đường lối tu từ đức Phật cho mãi đến chúng ta đặt cái gì là chủ, cái gì là gốc. Nhờ đó chúng ta biết được rành rẽ gốc ngọn của sự tu để chỉ dạy lại người sau đúng với lẽ thật. Không nên tưởng tượng đặt cái này, cái kia rồi mê say trong những cái gọi là Phật sự, mà xét kỹ bản chất lại không phải. Bởi vì thiếu điều kiện làm cho người tỉnh giác thì không phải là Phật sự.

Cho nên chúng ta phải hiểu, muốn làm Phật sự trước hết phải tu đến chỗ tỉnh giác. Sau khi tỉnh giác rồi dùng các phương tiện để giáo hoá chúng sanh. Mình tạo duyên đánh thức cho người tỉnh giác, duyên đó gọi là Phật sự.

Thí dụ: Trong mười mục chăn trâu, đến mục thứ mười vị Thiền sư buông thõng tay vào chợ, đi đến quán rượu, phòng trà, tới những chỗ cờ bạc để làm gì? Không vì mê nhiễm các thứ đó mà tới, chỉ là để tạo cơ hội đánh thức những người đang say mê, đang tạo nghiệp trong đó, giúp họ tỉnh giác, bỏ những điều dở xấu, như vậy là làm Phật sự. Người đời có thể không hiểu, cười nói: Ông thầy đó trở chứng, ổng đi tới sòng bạc, quán rượu v.v... Đó là cái nhìn của thế gian. Nhưng với tâm giác ngộ, các ngài thấy đến bất cứ đâu mà đánh thức người ta được, giúp người ta tỉnh đều là Phật sự hết. Hiểu vậy mình mới không lấy làm lạ.

Như vậy, trên đường tu cái gốc là phải tỉnh, phải giác. Từ chỗ tỉnh giác rồi chúng ta mới tùy duyên làm những việc lợi ích cho chúng sanh, đưa họ tới tỉnh giác, đó mới là Phật sự chân thật. Nếu chúng ta chưa tỉnh giác mà nói làm Phật sự, e không phải là Phật sự. Tôi nói cho tất cả hiểu tinh thần này để sau quí vị có ra làm đừng lầm lẫn.

 Cho nên tu theo Phật phải hiểu cái gốc từ đức Phật đã làm cái gì, rồi đến chư Tổ, các vị A-la-hán làm gì, để mình lấy đó làm khuôn mẫu hướng theo cho đúng ý nghĩa của đạo. Tôi mong tất cả chư Tăng hiểu được con đường mình đi thế nào, làm lợi ích cho chúng sanh ra sao, phải nắm cho vững, đừng lầm lẫn để uổng một đời tu, phí bao nhiêu công phu vô ích. Đó là lời nhắc nhở của tôi hôm nay.

 Ngày 13-1 Đinh Sửu (19-2-1997)

Hôm nay là buổi thỉnh nguyện đầu năm, trong đây toàn chúng đều không có lỗi và huynh đệ cũng không thấy lỗi để chỉ, đó là một tiến bộ đáng mừng. Nhưng tôi được biết có một khuyết điểm chung mà không ai thấy, đó là tọa thiền nhiều người ngủ gục. Tháng này nhiều người ngủ gục tôi nghĩ cũng có lý do, vì thời gian cuối năm công tác hơi nhiều nên mỗi người đều tích cực làm cho xong trước Tết, do lao động nhiều cho nên giờ tu không được nghiêm chỉnh, sáng suốt lắm. Nhưng ở đây tôi xin nhắc lại tất cả quí vị, thật ra tôi đã thấy từ lâu lao động có trở ngại cho sự tu hành, nhưng tất cả chúng ở đây là những người lớn, có nghị lực, có ý chí thì những trở ngại đó tôi tin là có thể vượt qua được. Trừ khi mình thiếu nghị lực, thiếu ý chí mới bị nó chi phối.

Nếu chúng ta tu cầm chừng, ngày qua ngày để suốt đời thành người tu thôi, điều đó mới nhìn thấy cũng tốt, giữ yên phận là người tu, không phạm những giới lớn, cũng không làm điều tà quấy, chỉ có những cái nhẹ nhẹ mình không làm chủ thôi. Đối với thế gian đó cũng là một người tu tốt, nhưng đối với trong đạo, nhất là người tu thiền thì không cho phép chúng ta như vậy.

Bởi vì người tu thiền phải lập chí quyết liệt, chết sống trong sự tu hành, không bao giờ thả trôi hay lừng chừng. Tôi thấy như trong kinh A-hàm có một đoạn đức Phật nói về Tứ niệm xứ, Ngài dạy rằng: Nếu Tỳ-kheo trong bảy ngày trụ tâm trong Tứ niệm xứ không dời đổi, vị đó sẽ chứng từ quả A-na-hàm đến A-la-hán. Rồi Phật nói chẳng những bảy ngày mà có thể sáu ngày, năm ngày, bốn ngày, ba ngày..., những người đó có thể chứng từ Sơ quả đến Tam quả.

Như vậy nghĩa là khi chúng ta hạ thủ công phu mà quyết tâm không xê dịch, không dời đổi, một còn một mất thì thành quả chắc chắn sẽ được. Còn mình tu tính năm tháng dài lâu mà không quyết chí, không đem hết sức lực ứng dụng tu thì thời gian dài mấy cũng không có kết quả. Bởi vậy Thiền sư Cao Phong Diệu ngày xưa cũng thường nói rằng: “Nếu các người sử dụng một lối tu từ một ngày đến bảy ngày không hề xê dịch, dời đổi mà không ngộ đạo thì chặt đầu ta đi.” Đó là những lời nói quyết liệt chỉ cho chúng ta thấy trên đường tu nếu khẳng định, quyết tâm một còn một mất để tiến tu thì có thể rút ngắn thời gian rất nhiều. Còn nếu tu trì trệ, yếu đuối, dù thời gian dài cũng không có kết quả gì.

Bởi vậy, tôi nghĩ tất cả quí vị ở trong chúng, ai đến đây cũng đều quyết tâm, nguyện tu hành đạt được kết quả chớ không phải tu cho có chừng, tu để có hình thức người tu. Muốn đạt được kết quả, bước đầu phải dứt hết các duyên, đừng bận bịu, lo nghĩ những gì bên ngoài không phải là trách nhiệm trong đạo của mình.

Bước thứ hai là phải lập chí quyết định trên đường tu, phải tiến tới chỗ lâu nay mình khao khát, mong đợi, chớ không phải chỉ tu cho có phước thôi, đó là lập chí quyết định.

Kế đó mình phải có nghị lực dũng mãnh, lúc nào cũng sẵn sàng vươn lên, dù chết cũng không sợ. Nhờ có nghị lực dũng mãnh đó, trên đường tu chúng ta mới đạt được kết quả như ý muốn. Suốt đời luôn luôn phải giữ nghị lực đó, đừng cho gián đoạn mới mong thành tựu tốt đẹp được. Như hồi xưa có ngài Huệ Lăng Trường Khánh ngồi thiền tới rách bảy cái bồ đoàn mà chưa ngộ đạo, nhưng Ngài cương quyết tu chừng nào được mới thôi, cho nên sau này được ngộ.

Như vậy để thấy rằng trên đường tu đòi hỏi chúng ta phải có tâm dứt khoát như trong bản Thanh qui tôi đã nêu. Dứt khoát khi tu chỉ làm tròn trách nhiệm trong đạo. Ngoài ra những chuyện khác mình không bận tâm, không để lòng, như vậy nhẹ đi một gánh nặng. Quí vị phải đủ ý chí, có một lập trường thật vững không bao giờ lay chuyển, quyết tiến tu cho đạt kết quả. Phải có nghị lực vừa mạnh mẽ, vừa lâu dài, thì trên đường tu sẽ có kết quả tốt đẹp chắc chắn.

Tôi có kinh nghiệm qua một số người quyết tâm tu, tuy thời gian nhập thất không lâu mà gặt hái kết quả tốt. Còn nếu yếu đuối chần chờ, dù kéo dài một đời lê thê cũng không có kết quả gì. Bởi vậy, khi quí vị lên bồ đoàn tọa thiền phải có ý chí dũng mãnh, quyết liệt vươn lên. Giờ ngồi thiền là giờ quyết liệt chớ không được thả trôi. Khi ngồi phải lập chí cho vững, phải có nghị lực cho mạnh, mọi thứ gì vừa tới liền đuổi. Phải tỉnh sáng chớ không để êm êm rồi ngủ, đó là thả trôi, không đi tới đâu hết. Nhất định mình phải thắng nó chớ đừng để nó thắng mình.

Đó là một trách nhiệm mình phải làm cho được. Chẳng lẽ đã là người tu mà suốt một đời không có gì tiến bộ, không có bước nào khác lạ thì đường tu vô nghĩa. Cho nên quí vị phải nhiệt tình, cương quyết, đừng chần chờ, đừng yếu đuối. Sở dĩ ngủ gục nhiều là tại thả trôi, ngồi một hồi thấy êm êm rồi thả trôi thì tha hồ gục. Phải luôn luôn giữ chỗ tỉnh sáng của mình, vừa thấy hơi yếu là mở mắt trừng trợn lên để tỉnh sáng, thắng con ma ngủ, đừng để nó làm chủ.

Đây là sự yếu đuối của Tăng chúng. Tôi nghĩ rằng tất cả chúng ở đây đều nhiệt tình, quyết tu, cần phải có nhận định chín chắn. Giờ tu là giờ vàng ngọc của mình chớ không phải thứ bỏ, không phải lên ngồi tu là ngồi ngủ, nếu ngồi ngủ thì ở dưới ngủ cho xong. Cho nên mình phải biết giờ đó là giờ quí báu, phải ráng, phải cương quyết làm sao giữ luôn luôn tỉnh sáng, không để ma ngủ dụ dỗ, lôi kéo. Như vậy sự tu hành mới có kết quả thiết thực, xứng đáng một đời tu.

Thật ra tôi thấy người tu mới vào chùa buổi đầu ai cũng nhiệt tình lắm, cương quyết lắm, nhưng lâu rồi lại thả trôi. Nhiều khi bổn phận chánh của mình không chịu làm, còn việc phụ ở đâu đâu cũng đem vô làm, rốt cuộc uổng một đời tu mà không có kết quả nào hết.

Bởi vậy hôm nay nhân ngày thỉnh nguyện đầu năm, nhân trong chúng có những cái yếu đuối như bị ma ngủ dẫn dụ, tôi có ít lời nhắc, tất cả quí vị phải nhớ và cương quyết thắng ma hôn trầm. Mình tu mà không đạt kết quả thì hi sinh một đời vô nghĩa, rất đáng buồn. Vì vậy phải dụng công có kết quả mới xứng đáng là một người quyết tâm đi tu. Cho nên đức Phật thường thí dụ người tu như một chiến sĩ ra trận.

Qua những kinh nghiệm từ các Thiền viện của mình, Tăng cũng như Ni, người nào quyết tâm khi bước vào đạo hay vào thất đều coi như là chuyển cả cuộc đời, nhất định mình phải tiến lên, những người đó tôi thấy có kết quả thật sự không ngờ. Còn những vị ban đầu đến với đạo nhiệt tình, lâu lâu phai lần, phai lần thành yếu đuối, thì không có kết quả gì hết. Bởi vậy tôi nhắc cho quí vị nhớ nuôi dưỡng tâm nguyện chân chánh của mình từ buổi đầu, phải làm sao hâm nóng, làm sao thực hiện cho được, đừng thả trôi uổng một đời. Đó là sự nhắc nhở thiết yếu trong buổi thỉnh nguyện hôm nay.

Tác giả bài viết: HT. Thích Thanh Từ
Nguồn tin: Thiền viện thường chiếu
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Giới thiệu

Tổ Truyền Đăng

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Cách nay 2556 năm 1. TỔ MA HA CA DIẾP Đồng thời đức Phật 2. TỔ A NAN Sanh sau Phật 30 năm 3. Tổ Thương-Na-Hòa-Tu ( Sanakavasa)  Thế kỷ đầu sau Phật Niết-bàn 4. Tổ Ưu-Ba-Cúc-Đa (Upagupta)  Cuối thế kỷ thứ nhất sau Phật Niết-bàn 5. Tổ...

Thống kê

  • Đang truy cập: 44
  • Hôm nay: 2690
  • Tháng hiện tại: 127163
  • Tổng lượt truy cập: 16816833

Tin xem nhiều

Xem bản: Desktop | Mobile