Nguyền mong thân cận minh sư, quả Bồ Đề một đêm mà chín. Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa Ưu Đàm mấy kiếp đâm bông.
Rss Feed

Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa - Tập 15 Quyển 372 - Hội thứ nhất

Đăng lúc: Thứ tư - 28/12/2011 05:43 - Người đăng bài viết: Tịnh Cường
Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa - Tập 15 Quyển 372 - Hội thứ nhất

Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa - Tập 15 Quyển 372 - Hội thứ nhất

Hán dịch: Tam Tạng Pháp Sư Huyền Trang Việt dịch: Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm Khảo dịch: Hòa Thượng Thích Thiện Siêu Sàigòn - 1998

Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật Đa
(Trọn bộ 24 tập) 

--- o0o ---
Quyển thứ  372

HỘI THỨ NHẤT

Phẩm

Khắp học đạo

Thứ 64 - 7

Thiện Hiện! Do nhân duyên đây, nên biết tất cả kẻ có hai tưởng quyết định không có bố thí Ba la mật đa, cũng không tịnh giới Ba la mật đa, cũng không an nhẫn Ba la mật đa, cũng không tinh tiến Ba la mật đa, cũng không tĩnh lự Ba la mật đa, cũng không bát nhã Ba la mật đa. Không đạo, không quả, cũng không hiện quán, cho đến thuận nhẫn kia hãy chẳng có. Huống có biết khắp sắc, huống có biết khắp thọ tưởng hành thức. Huống có biết khắp nhãn xứ, huống có biết khắp nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ. Huống có biết khắp sắc xứ, huống có biết khắp thanh hương vị xúc pháp xứ. Huống có biết khắp nhãn giới, huống có biết khắp nhĩ tỷ thiệt thân ý giới. Huống có biết khắp sắc giới, huống có biết khắp thanh hương vị xúc pháp giới. Huống có biết khắp nhãn thức giới, huống có biết khắp nhĩ tỷ thiệt thân ý thức giới. Huống có biết khắp nhãn xúc, huống có biết khắp nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc. Huống có biết khắp nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ, huống có biết khắp nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ.

Huống có biết khắp địa giới, huống có biết khắp thủy hỏa phong không thức giới. Huống có biết khắp nhân duyên; huống có biết khắp đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên. Huống có biết khắp vô minh; huống có biết khắp hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh lão tử sầu thần khổ ưu não. Huống có biết khắp bố thí Ba la mật đa; huống có biết khắp tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, Bát nhã Ba la mật đa. Huống có biết khắp nội không; huống có biết khắp ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, thắng nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cảnh không, vô tế không, tán không, vô biến dị không, bổn tánh không, tự tướng không, cộng tướng không, nhất thiết pháp không, bất khả đắc không, vô tánh không, tự tánh không, vô tánh tự tánh không.

Huống có biết khắp bốn niệm trụ; huống có biết khắp bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy đẳng giác chi, tám thánh đạo chi. Huống có biết khắp khổ thánh đế, huống có biết khắp tập diệt đạo thánh đế. Huống có biết khắp bốn tĩnh lự; huống có biết khắp bốn vô lượng, bốn vô sắc định, Huống có biết khắp tám giải thoát; huống có biết khắp tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ.

Huống có biết khắp tất cả tam ma địa môn, huống có biết khắp tất cả đà la ni môn. Huống có biết khắp không giải thoát môn; huống có biết khắp vô tướng, vô nguyện giải thoát môn. Huống có biết khắp Cực hỷ địa; huống có biết khắp Ly cấu địa, Phát quang địa, Diệm huệ địa, Cực nan thắng địa, Hiện tiền địa, Viễn hành địa, Bất động địa, Thiện huệ địa, Pháp vân địa. Huống có biết khắp năm nhãn, huống có biết khắp sáu thần thông.

Huống có biết khắp Phật mười lực; huống có biết khắp bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, mười tám pháp Phật bất cộng. Huống có biết khắp đại từ; huống có biết khắp đại bi, đại hỷ, đại xả. Huống có biết khắp pháp vô vong thất, huống có biết khắp tánh hằng trụ xả. Huống có biết khắp nhất thiết trí; huống có biết khắp đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí.

Huống có biết khắp quả Dự lưu; huống có biết khắp quả Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác Bồ đề. Huống có biết khắp tất cả hạnh Bồ tạt Ma ha tát. Huống có biết khắp chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Kia hãy chẳng năng tu các Thánh đạo, huống được quả Dự lưu, Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác Bồ đề. Huống lại năng được Nhất thiết trí trí và năng dứt hẳn tập khí nối nhau tất cả phiền não.

Hội THứ nhất

Phẩm

BA LẦN LỮA

Thứ 65 -1

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Kẻ trụ hữu tưởng, nếu không thuận nhẫn, không đạo, không quả, cũng không hiện quán. Kẻ trụ vô tưởng đâu có thuận nhẫn, hoặc Tịnh quán địa, hoặc Chủng tánh địa, hoặc Đệ bát địa, hoặc Kiến địa, hoặc Bạc địa, hoặc Ly dục địa, hoặc Dĩ biện địa, hoặc Độc giác địa, hoặc Bồ tát địa, hoặc Như Lai địa, hoặc tu Thánh đạo. Nhơn tu Thánh đạo, dứt các phiền não, hoặc tương ưng Thanh văn, hoặc tương ưng Độc giác. Do bị phiền não đây ngăn che nên các Bồ tát Ma ha tát đâu năng vào Bồ tát Chánh tánh ly sanh. Nếu chẳng năng vào Bồ tát Chánh tánh ly sanh, đâu năng chứng được Nhất thiết tướng trí. Nếu chẳng chứng được nhất thiết tướng trí, đâu năng dứt hẳn tập khí nối nhau tất cả phiền não? Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả pháp đều vô sở hữu, vô sanh vô diệt, vô nhiễm vô tịnh. Các pháp như thế đã đều chẳng sanh, đâu năng chứng được Nhất thiết trí trí?

Phật nói: Như vậy, như vậy. Thiện Hiện! Như người vừa nói. Kẻ trụ vô tưởng cũng không thuận nhẫn, không Tịnh quán địa, không Chủng tánh địa, không Đệ bát địa, không Kiến địa, không Bạc địa, không Ly dục địa, không Dĩ biện địa, không Độc giác địa, không Bồ tát địa, không Như Lai địa, không tu Thánh đạo. Nhờ tu Thánh đạo dứt các phiền não, hoặc tương ưng Thanh văn, hoặc tương ưng Độc giác. Do bị Phiền não đây ngăn che nên các Bồ tát Ma ha tát, lẽ chẳng năng vào Bồ tát Chánh tánh ly sanh. Nếu chẳng năng vào Bồ tát Chánh tánh ly sanh, lẽ chẳng năng chứng được Nhất thiết tướng trí. Nếu chẳng năng chứng được Nhất thiết tướng trí, lẽ chẳng năng dứt hẳn tập khí nối nhau tất cả phiền não. Thiện Hiện! Nếu tất cả pháp đều vô sở hữu, vô sanh vô diệt, vô nhiễm vô tịnh. Các pháp như thế đã chẳng sanh, làm sao năng chứng được Nhất thiết trí trí.

Cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu. hãy có hữu tưởng, có vô tưởng chăng? Hãy có tưởng sắc, có tưởng thọ tưởng hành thức chăng? Hãy có tưởng nhãn xứ, có tưởng nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ chăng? Hãy có tưởng sắc xứ có tưởng thanh hương vị xúc pháp xứ chăng? Hãy có tưởng nhãn giới, có tưởng nhĩ tỷ thiệt thân ý giới chăng? Hãy có tưởng sắc giới, có tưởng thanh hương vị xúc pháp giới chăng? Hãy có tưởng nhãn thức giới, có tưởng nhĩ tỷ thiệt thân ý thức giới chăng? Hãy có tưởng nhãn xúc, có tưởng nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc chăng? Hãy có tưởng nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ, có tưởng nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ chăng?

Hãy có tưởng địa giới, có tướng thủy hỏa phong không thức giới chăng? Hãy có tưởng nhân duyên; có tưởng đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên chăng? Hãy có tưởng tham; có tưởng sân, si chăng? Hãy có tưởng vô minh; có tưởng hành, thức, danh sắc, lục xử, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh lão tử sầu thán khổ ưu não chăng? Hãy có tưởng bố thí Ba la mật đa; có tưởng tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, Bát nhã Ba la mật đa chăng?

Hãy có tưởng nội không; có tưởng ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, thắng nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cánh không, vô tế không, tán không, vô biến dị không, bổn tánh không, tự tướng không, cộng tướng không, nhất thiết pháp không, bất khả đắc không, vô tánh không, tự tánh không, vô tánh tự tánh không chăng?

Hãy có tưởng bốn niệm trụ; có tưởng bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy đẳng giác chi, tám thánh đạo chi chăng? Hãy có tưởng khổ thánh đế, có tưởng tập diệt đạo thánh đế chăng? Hãy có tưởng bốn tĩnh lự; có tưởng bốn vô lượng, bốn vô sắc định chăng? Hãy có tưởng tám giải thoát; có tưởng tám thắng xứ,  chín thứ đệ định, mười biến xứ chăng?

Hãy có tưởng tam ma địa môn, có tưởng đà la ni môn chăng? Hãy có tưởng không giải thoát môn, có tưởng vô tướng, vô nguyện giải thoát môn chăng? Hãy có tưởng Cực hỷ địa; có tưởng Ly cấu địa. Phát quang địa, Diệm huệ địa, Cực nan thắng địa, Hiện tiền địa, Viễn hành địa, Bất động địa. Thân huệ địa, Pháp vân địa chăng? Hãy có tưởng năm nhãn, có tưởng sáu thần thông chăng?

Hãy có tưởng Phật mười lực; có tưởng bốn vô sở úy bốn vô ngại giải, mười tám pháp Phật bất cộng chăng? Hãy có tưởng đại từ; có tưởng đại bi, đại hỷ, đại xả chăng? Hãy có tưởng pháp vô vong thất, có tưởng tánh hằng trụ xả chăng? Hãy có tưởng nhất thiết trí; có tưởng đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí chăng?

Hãy có tưởng quả Dự lưu; có tưởng quả Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác Bồ đề chăng? Hãy có tưởng hạnh Bồ tát Ma ha tát, có tưởng chư phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề chăng? Hãy có tưởng Nhất thiết trí trí chăng? Hãy có tưởng dứt hẳn tập khí nối nhau tất cả phiền não chăng?

Bạch Thế Tôn! Hãy có tưởng sắc, có tưởng dứt sắc chăng? Hãy có tưởng thọ tưởng hành thức, có tưởng dứt thọ tưởng hành thức chăng?

Hãy có tưởng nhãn xứ, có tưởng dứt nhãn xứ chăng? Hãy có tưởng nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ, có tưởng dứt nhĩ tỷ thiệt thân ý xứ chăng?

Hãy có tưởng sắc xứ, có tưởng dứt sắc xứ chăng? Hãy có tưởng thanh hương vị xúc pháp xứ, có tưởng dứt thanh hương vị xúc pháp xứ chăng?

Hãy có tưởng nhãn giới, có tưởng dứt nhãn giới chăng? Hãy có tưởng nhĩ tỷ thiệt thân ý giới, có tưởng dứt nhĩ tỷ thiệt thân ý giới chăng?

Hãy có tưởng sắc giới, có tưởng dứt sắc giới chăng? Hãy có tưởng thanh hương vị xúc pháp giới, có tướng dứt thanh hương vị xúc pháp giới chăng?

Hãy có tưởng nhãn thức giới, có tưởng dứt nhãn thức giới chăng? Hãy có tưởng nhĩ tỷ thiệt thân ý thức giới, có tưởng dứt nhĩ tỷ thiệt thân ý thức giới chăng?

Hãy có tưởng nhãn xúc, có tưởng dứt nhãn xúc chăng? Hãy có tưởng nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc, có tưởng dứt nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc chăng?

Hãy có tưởng nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ, có tưởng dứt nhãn xúc làm duyên sanh ra các thọ chăng? Hãy có tưởng nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ, có tưởng dứt nhĩ tỷ thiệt thân ý xúc làm duyên sanh ra các thọ chăng?

Hãy có tưởng địa giới, có tưởng dứt địa giới chăng? Hãy có tưởng thủy hỏa phong không thức giới, có tưởng dứt thủy hỏa phong không thức giới chăng?

Hãy có tưởng nhân duyên, có tưởng dứt nhân duyên chăng? Hãy có tưởng đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên; có tưởng dứt đẳng vô gián duyên, sở duyên duyên, tăng thượng duyên chăng?

Hãy có tưởng tham, có tưởng dứt tham chăng? Hãy có tưởng sân, si, có tưởng dứt sân, si chăng?

Hãy có tưởng vô minh, có tưởng dứt vô minh chăng? Hãy có tưởng hành, thức, danh sắc, lục xứ, xúc, thọ, ái, thủ, hữu, sanh lão tử sầu thán khổ ưu não; có tưởng dứt hành cho đến lão tử sầu thán khổ ưu não chăng?

Hãy có tưởng bố thí Ba la mật đa, có tưởng dứt bố thí Ba la mật đa chăng? Hãy có tưởng tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát nhã Ba la mật đa; có tưởng dứt tịnh giới cho đến Bát nhã Ba la mật đa chăng?

Hãy có tưởng nội không, có tưởng dứt nội không chăng? Hãy có tưởng ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, thắng nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cánh không, vô tế không, tán không, vô biến dị không, bổn tánh không, tự tướng không, cộng tướng không, nhất thiết pháp không, bất khả đắc không, vô tánh không, tự tánh không, vô tánh tự tánh không; có tưởng dứt ngoại không cho đến vô tánh tự tánh không chăng?

Hãy có tưởng bốn niệm trụ, có tưởng dứt bốn niệm trụ chăng? Hãy có tưởng bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy đẳng giác chi, tám thánh đạo chi; có tưởng dứt bốn chánh đoạn cho đến tám thánh đạo chi chăng?

Hãy có tưởng khổ thánh đế, có tưởng dứt khổ thánh đế chăng? Hãy có tưởng tập diệt đạo thánh đế, có tưởng dứt tập diệt đạo thánh đế chăng?

Hãy có tưởng bốn tĩnh lự, có tưởng dứt bốn tĩnh lự chăng? Hãy có tưởng bốn vô lượng, bốn vô sắc định; có tưởng dứt bốn vô lượng, bốn vô sắc định chăng?

Hãy có tưởng tám giải thoát, có tưởng dứt tám giải thoát chăng? Hãy có tưởng tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ; có tưởng dứt tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ chăng?

Hãy có tưởng tam ma địa môn, có tưởng dứt tam ma địa môn chăng? Hãy có tưởng đà la ni môn, có tưởng dứt đà la ni môn chăng?

Hãy có tưởng không giải thoát môn, có tưởng dứt không giải thoát môn chăng? Hãy có tưởng vô tướng, vô nguyện giải thoát môn; có tưởng dứt vô tướng, vô nguyện giải thoát môn chăng?

Hãy có tưởng Cực hỷ địa, có tưởng dứt Cực hỷ địa chăng? Hãy có tưởng Ly cấu địa, Phát quang địa, Diệm huệ địa, Cực nan thắng địa, Hiện tiền địa, Viễn hành địa, Bất động địa, Thiện huệ địa, Pháp vân địa; có tưởng dứt Ly cấu địa cho đến Pháp vân địa chăng?

Hãy có tưởng năm nhãn, có tưởng dứt năm nhãn chăng? Hãy có tưởng sáu thần thông, có tướng dứt sáu thần thông chăng?

Hãy có tưởng Phật mười lực, có tưởng dứt Phật mười lực chăng? Hãy có tưởng bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, mười tám pháp Phật bất cộng; có tưởng dứt bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, mười tám pháp Phật bất cộng chăng?

Hãy có tưởng đại từ, có tưởng dứt đại từ chăng? Hãy có tưởng đại bi, đại hỷ, đại xả; có tướng dứt đại bi, đại hỷ, đại xả chăng?

Hãy có tưởng phân vô vong thất, có tưởng dứt pháp vô vong thất chăng? Hãy có tưởng tánh hằng trụ xả, có tưởng dứt tánh hằng trụ xả chăng?

Hãy có tưởng nhất thiết trí, có tưởng dứt nhất thiết trí chăng? Hãy có tưởng đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí; có tưởng dứt đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí chăng?

Hãy có tưởng quả Dự lưu, có tưởng dứt quả Dự lưu chăng? Hãy có tưởng quả Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác Bồ đề; có tưởng dứt quả Nhất lai, Bất hoàn, A la hán, Độc giác Bố đề chăng?

Hãy có tưởng hạnh Bồ tạt Ma ha tát, có tưởng dứt hạnh Bồ tạt Ma ha tát chăng? Hãy có tưởng chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, có tưởng dứt chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bố đề chăng?

Hãy có tưởng Nhất thiết trí trí, có tưởng dứt Nhất thiết trí trí chăng? Hãy có tưởng tập khí nối nhau tất cả phiền não bị dứt, có tưởng dứt tập khí nối nhau tất cả phiền não bị dứt chăng?

Phật nói: Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi hành Bát nhã Ba la mật đa thẳm sâu, đối tất cả pháp đều không hữu tưởng cũng không vô tưởng. Thiện Hiện! Nếu không hữu tưởng cũng không vô tưởng, phải biết tức là Bồ tát thuận nhẫn. Nếu không hữu tưởng cũng không vô tưởng, tức là tu đạo. Nếu không hữu tưởng cũng không vô tưởng. tức là đắc quả. Thiện Hiện! Phải biết vô tánh tức là đạo Bồ tạt Ma ha tát, vô tánh tức là hiện quán Bồ tát Ma ha tát. Thiện Hiện! Do nhân duyên đây nên biết tất cả pháp đều lấy vô tánh làm nơi tự tánh.

Cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu tất cả pháp đều lấy vô tánh làm tự tánh ấy. Vì sao Như Lai đối tất cả pháp vô tánh làm tánh, hiện chánh đẳng giác, hiện đẳng giác rồi đối tất cả pháp và các cảnh giới đều được tự tại?

Phật nói: Thiện Hiện! Như vậy, như vậy. Tất cả pháp đều lấy vô hình làm tự tánh. Ta khi xưa tu học đạo Bồ tát, tu hành bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự bát nhã Ba la mật đa không trái ngược. Lìa pháp dục ác bất thiện, có tầm có tứ lìa, sanh vui mừng, vào trụ đầy đủ sơ tĩnh lự .Vắng lặng tầm tứ, tánh nội đẳng, tịnh tâm nhất thú; không tầm không tứ, định sanh vui mừng vào trụ đầy đủ đệ nhị tĩnh lự. Lìa mừng trụ xả, chánh niệm chánh biết, thân thọ vui, Thánh thuyết nên xả, vào trụ đầy đủ đệ tam tĩnh lự. Dứt vui dứt khổ, mất vui buồn trước kia, chẳng khổ chẳng vui, xả niệm thanh tịnh, vào trụ đầy đủ đệ tứ tĩnh lự. Ta với lúc bấy giờ đối các tĩnh lự và nhánh tĩnh lự, tuy khéo lấy tướng mà không sở chấp. Đối các tĩnh lự và nhánh tĩnh lự đều không say đắm, đối các tĩnh lự và nhánh tĩnh lự đều không sở đắc. Ta với lúc bấy giờ đối các tĩnh lự, đem hành tướng thanh tịnh không sở phân biệt an trụ đầy đủ. Ta với lúc bấy giờ đối các tĩnh lự vã nhánh tĩnh lự khéo thông thạo rồi, khiến tâm phát khởi Thần cảnh trí chứng thông, cũng khiến tâm phát khởi Thiên nhĩ trí chứng thông, cũng khiến tâm phát khởi Tha tâm trí chứng thông, cũng khiến tâm phát khởi Túc trụ tùy niệm trí chứng thông, cũng khiến tâm phát khởi Thiên nhãn trí chứng thông. Ta với lúc bấy giờ đối các trí chứng thông đã phát khởi, tuy khéo lấy tướng mà không sở chấp; đối các trí chứng thông đã phát khởi đều không say đắm; đối các trí chứng thông đã phát khởi đều vô sở đắc. Ta với lúc bấy giờ đối các trí chứng thông đã phát khởi, đem thấy như hư không không sở phân biệt an trụ đầy đủ. Thiện Hiện! Ta lúc bấy giờ do một thời sát na rất ngắn tương ưng diệu huệ chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Nghĩa là hiện đẳng giác: đây khổ thánh đế, đây tập thánh đế, đây diệt thánh đế, đây đạo thánh đế đều vô sở hữu. Trọn nên mười lực, bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng thảy vô biên công đức. An lập ba nhóm hữu tình sai khác, tùy kia sở ưng phương tiện dạy dẫn khiến được lợi ích an vui thù thắng.

 

Cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác làm sao năng khởi bốn tĩnh lự vô tánh làm tự tánh được; năng phát năm thần thông vô tánh làm tự tánh được; năng chứng Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề vô tánh làm tự tánh được; năng lập hữu tình vô tánh làm tự tánh; làm ba nhóm rồi, tùy kia sở ưng phương tiện dạy dẫn, khiến được lợi ích an vui thù thắng được?

Phật nói: Thiện Hiện! Nếu các pháp dục ác bất thiện thảy có chút tự tánh, hoặc lại tha tánh làm tự tánh ấy. Ta khi xưa tu hành hạnh Bồ tát chẳng ưng thông đạt tất cả pháp dục ác bất thiện thảy, đều lấy vô tánh làm tự tánh rồi. năng vào trụ đầy đủ sơ tĩnh lự, năng vào trụ đầy đủ đệ nhị, đệ tam, đệ tứ tĩnh lự. Vì các pháp dốc ác bất thiện thảy không có tánh tự tha, chỉ lấy vô tánh làm tự tánh, nên Ta khi xưa tu hành hạnh Bồ tát, thông đạt pháp dục ác bất thiện thảy, đều lấy vô tánh làm tự tánh rồi, năng lìa pháp dục ác bất thiện, có tầm có tứ, lìa sanh vui mừng, vào trụ đầy đủ sơ tĩnh lự. Tầm tứ vắng lặng, tánh nội đẳng tịnh tâm nhất thú, không tầm không tứ, định sanh vui mừng. vào trụ đầy đủ đệ nhị tĩnh lự. Lìa mừng trụ xả, chánh niệm chánh biết, thân thọ vui, Thánh thuyết nên bỏ, vào trụ đầy đủ đệ tam tĩnh lự. Dứt vui dứt khổ, mất mừng buồn trước kia, chẳng khổ chẳng vui, xả niệm thanh tịnh vào trụ đầy đủ đệ tứ tĩnh lự.

Thiện Hiện! Nếu các thần thông có chút tự tánh hoặc lại tha tánh làm tự tánh ấy, Ta khi xưa tu hành hạnh Bồ tát, chẳng ưng thông đạt tất cả thần thông, đều lấy vô tánh làm tự tánh rồi, phát khởi nhiều thứ thần thông tự tại. Vì các thần thông không tánh tự tha, chỉ lấy vô tánh làm tự tánh, nên Ta khi xưa tu hành hạnh Bồ tát thông đạt thần thông, đều lấy vô tánh làm tự tánh rồi năng khiến tâm phát khởi Thần cảnh trí chứng thông; cũng khiến tâm phát khởi Thiên nhĩ, Tha tâm, Túc trụ, Tùy niệm, Thiên nhãn trí chứng thông, đối các cảnh giới tự tại vô ngại.

Thiện Hiện! Nếu Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề Phật có chút tự tánh, hoặc lại tha tánh làm tự tánh ấy, Ta khi xưa tu hành hạnh Bồ tát, chẳng ưng thông đạt chư Phật Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, đều lấy vô tánh làm tự tánh rồi, chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Vì Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề Phật không tánh tự tha, chỉ lấy vô tánh làm tự tánh, nên Ta khi xưa tu hành hạnh Bồ tát thông đạt Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề đều lấy vô tánh làm tự tánh rồi, năng dùng một niệm tương ưng diệu huệ, chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Như thật giác biết khổ tập diệt đạo thánh đế đều vô sở hữu. Trọn nên mười lực, bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, mười tám pháp Phật bất cộng, vô biên công đức.

Thiện Hiện! Nếu các hữu tình có chút tự tánh hoặc lại tha tánh làm tự tánh ấy, Ta thành Phật rồi, chẳng ưng thông đạt tất cả hữu tình, đều lấy vô tánh làm tự tánh rồi, an lập ba nhóm hữu tình sai khác. Vì các hữu tình không tánh tự tha, chỉ lấy vô tánh làm tự tánh; nên Ta thành Phật rồi thông đạt hữu tình, đều lấy vô tánh làm tự tánh rồi năng lập ba nhóm hữu tình sai khác, tùy kia sở ưng phương tiện dạy dẫn khiến được lợi ích an vui thù thắng.

Bấy giờ, cụ thọ Thiện Hiện thưa Phật rằng: Bạch Thế Tôn! Nếu Bồ tát Ma ha tát y pháp vô tánh làm tự tánh, khởi bốn tĩnh lự, phát năm thần thông chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bố đề, an lập ba nhóm hữu tình sai khác, tùy kia sở ưng phương tiện dạy dẫn khiến được lợi ích an vui những việc ấy. Bồ tát Ma ha tát vì sao đối trong pháp vô tánh làm tự tánh có nghiệp lần lữa, học lần lữa. hành lần lữa. Do nghiệp lần lữa, học lần lữa, hành lần lữa đây, nên mới chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề?

Phật nói: Thiện Hiện! Các Bồ tát Ma ha tát trước tiện theo Phật Thế Tôn được nghe, hoặc đã theo cúng dường nhiều các Phật Bồ tát Ma ha tát được nghe, hoặc theo Độc giác được nghe, hoặc theo A la hán được nghe, hoặc theo Bất hoàn, Nhất lai, Dự lưu được nghe. Các Phật Thế Tôn lấy vô tánh làm tự tánh chứng được rốt ráo, vì pháp vô tánh làm tự tánh nên gọi Phật Thế Tôn. Các Bồ tát Ma ha tát cũng lấy vô tánh làm tự tánh lần lữa chứng được, vì pháp vô tánh làm tự tánh nên gọi Bồ tát Ma ha tát. Tất cả Độc giác cũng lấy vô tánh làm tự tánh lần lữa chứng được, vì pháp vô tánh làm tự tánh nên gọi Độc giác. Các A la hán cũng lấy vô tánh làm tự tánh lần lữa chứng được, vì pháp vô tánh làm tự tánh nên gọi A la hán. Tất cả Bất hoàn, Nhất lai, Dự lưu, cũng lấy vô tánh làm tự tánh lần lữa chứng được, vì pháp vô tánh làm tự tánh nên gọi Bất hoàn, Nhất lai, Dự lưu. Các hiền thiện sĩ cũng lấy vô tánh làm tự tánh, quyết định tin hiểu, vì pháp vô tánh làm tự tánh nên gọi hiền thiện sĩ. Kỳ dư các hữu tình, tất cả hành, tất cả pháp, đều lấy vô tánh làm tự tánh cho đến không có lượng bằng đầu sợi lông hoặc hành, hoặc pháp thật có tự tánh mà khá được ấy. Bồ tát Ma ha tát này nghe việc đây rồi tác suy nghĩ này: Nếu tất cả hữu tình, tất cả hành, tất cả pháp đều lấy vô tánh làm tự tánh chứng được tin hiểu, vì pháp vô tánh làm tự tánh nên gọi là Phật, Bồ tát, Độc giác, Thanh văn, hiền thiện sĩ ấy, ta đối Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, hoặc sẽ chứng được, hoặc chẳng chứng được. Tất cả hữu hình, tất cả hành, tất cả pháp thường lấy vô tánh làm tự tánh, nên ta quyết định phải phát tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Được Bồ đề rồi, nếu các hữu tình, kẻ hành hữu tưởng phương tiện an lập khiến trụ vô tưởng. Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này đã suy nghĩ rồi, phát tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề .Vì khắp độ các hữu tình nên khởi nghiệp lần lữa, tu học lần lữa, hành hạnh lần lữa, như các Bồ tát Ma ha tát đời quá khứ phát tới Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề, trước tu nghiệp-học-hạnh lần lữa nên chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Bồ tát Ma ha tát này cũng lại như thế, trước nên tu hành bố thí Ba la mật đa, kế nên tu hành tịnh giới Ba la mật đa, kế nên tu hành an nhẫn Ba la mật đa, kế nên tu hành tinh tiến Ba la mật đa, kế nên tu hành tĩnh lự Ba la mật đa, sau nên tu hành bát nhã Ba la mật đa.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tại này từ sơ phát tâm khi tu hành bố thí Ba la mật đa, tu hành bố thí Ba la mật đa, cũng khuyên người hành bố thí Ba la mật đa, xưng nêu chỉ rõ công đức bố thí Ba la mật đa, vui mừng khen ngợi kẻ hành bố thí Ba la mật đa. Do nhân duyên đây, bố thí viên mãn, sanh trong trời người được ngôi giàu lớn, thường tu bố thí, lìa tâm keo rít. Tùy các hữu tình cần ăn thí ăn, cần uống thí uống, cần áo thí áo, cần xe thí xe, cần hương hoa thí hương hoa, cần chuỗi anh lạc thí chuỗi anh lạc, cần phòng nhà thí phòng nhà, cần đồ nằm thí đồ nằm. cần đèn sáng thí đèn sáng, cần của báu thí của báu, cần tôi tớ thí tôi tớ; tùy những thứ cần món món tư cụ thảy đều thí cho. Bồ tát Ma ha tát này do bố thí nên thọ trì nhóm giới, sanh trong trời người được sang trọng lớn. Do thí giới nên lại được nhóm định, do thí giới định nên lại được nhóm huệ, do thí giới định huệ nên lại được nhóm giải thoát; do thí giới, định, huệ, giải thoát nên lại được nhóm giải thoát tri kiến. Do các nhóm thí giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến viên mãn nên vượt các Thanh văn và bậc Độc giác, thẳng vào Bồ tát Chánh tánh ly sanh. Vào ngôi Bồ tát Chánh tánh ly sanh rồi, mới năng nghiêm tịnh cõi Phật, thành thục hữu tình. Nghiêm tịnh cõi Phật. thành thục hữu tình được viên mãn rồi, mới năng chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề rồi, mới năng quay xe chánh pháp. Do quay xe chánh pháp nên an lập hữu tình nơi pháp Tam thừa. Hữu tình an trụ pháp Tam thừa rồi, giải thoát sanh tử chứng được Niết bàn. Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này do bố thí nên dù năng làm nghiệp lần lữa, tu học lần lữa, hành hạnh lần lữa như thế, mà quán tất cả đều bất khả đắc. Vì cớ sao? Vì tất cả pháp tự tánh vô vậy.

Lại nữa. Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này từ sơ phát tâm khi tu hành tịnh giới Ba la mật đa, nên tu hành tịnh giới Ba la mật đa, cũng khuyên người hành tịnh giới Ba la mạt đa, xưng nêu chỉ rõ công đức tịnh giới Ba la mật đa, vui mừng khen ngợi kẻ hành tịnh giới Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tại này do nhân duyên đây, nhóm giới thanh tịnh sanh trong trời người được sang trọng lớn, thí nhiều thứ của cải cho kẻ bần cùng. Đã hành thí rồi, an trụ nhóm giới, nhóm định, nhóm huệ, nhóm giải thoát, nhóm giải thoát tri kiến. Do các nhóm giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến thanh tịnh nên vượt các Thanh văn và bậc Độc giác, thẳng vào Bồ tát Chánh tánh ly sanh. Vào ngôi Bồ tát Chánh tánh ly sanh rồi, mới năng nghiêm tịnh cõi Phật, thành thục hữu tình, nghiêm tịnh cõi Phật, thành thục hữu tình được viên mãn rồi, mới năng chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề rồi, mới năng quay xe chánh pháp. Do quay xe chánh pháp, nên an lập hữu tình nơi pháp Tam thừa. Hữu tình an trụ pháp Tam thừa rồi, giải thoát sanh tử chứng được Niết bàn. Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này do tịnh giới nên dù năng làm nghiệp lần lữa, tu học lần lữa. hành hạnh lần lữa như thế, mà quán tất cả đều bất khả đắc. Vì cớ sao? Vì tất cả pháp tự tánh vô vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này từ sơ phát tâm khi tu hành an nhẫn Ba la mật đa, nên tự hành an nhẫn Ba la mật đa, cũng khuyên người hành an nhẫn Ba la mật đa, xưng nêu chỉ rõ công đức an nhẫn Ba la mật đa. vui mừng khen ngợi kẻ hành an nhẫn Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát này khi hành an nhẫn năng đem của vật thí các hữu tình đều khiến đầy đủ. Đã hành thí rồi, an trụ nhóm giới, an trụ an nhẫn, an trụ nhóm định, nhóm huệ, nhóm giải thoát, nhóm giải thoát tri kiến. Do các nhóm giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến thanh tịnh, nên vượt các Thanh văn và bậc Độc giác, thẳng vào Bồ tát Chánh tánh ly sanh. Vào ngôi Bồ tát Chánh tánh ly sanh rồi, mới năng nghiêm tịnh cõi Phật, thành thực hữu tình. Nghiêm tịnh cõi Phật, thành thục hữu tình được viên mãn rồi, mới năng chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề rồi, mới năng quay xe Chánh pháp. Do quay xe Chánh pháp nên an lập hữu tình nơi pháp Tam thừa. Hữu tình an trụ pháp Tam thừa rồi, giải thoát sanh tử chứng được Niết bàn. Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này do an nhẫn nên dù năng làm nghiệp lần lữa, tu học lần lữa, hành hạnh lần lữa như thế, mà quán tất cả đều bất khả đắc. Vì cớ sao? Vì tất cả pháp tự tánh vô vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này từ sơ phát tâm, khi tu hành tinh tiến Ba la mật đa, nên tự đối các pháp lành phát siêng tinh tiến Ba la mật đa, cũng khuyên người đối các pháp lành phát siêng tinh tiến Ba la mật đa, xưng nêu chỉ rõ công đức đối các pháp lành phát siêng tinh tiến Ba la mật đa, vui mừng khen ngợi kẻ đối các pháp lành phát siêng tinh tiến Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát này khi hành tinh tiến, năng đem của vật thí các hữu tình đều khiến đầy đủ. Đã hành thí rồi, an trụ nhóm giới, an trụ an nhẫn, an trụ tinh tiến, an trụ nhóm định, nhóm huệ, nhóm giải thoát, nhóm giải thoát tri kiến. Do các nhóm giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến thanh tịnh nên vượt các Thanh văn và bậc Độc giác thẳng vào Bồ tát Chánh tánh ly sanh. Vào ngôi Bồ tát Chánh tánh ly sanh rồi mới năng nghiêm tịnh cõi Phật, thành thục hữu tình. Nghiêm tịnh cõi Phật, thành thục hữu tình được viên mãn rồi, mới năng chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề rồi, mới năng quay xe Chánh pháp. Do quay xe Chánh pháp nên an lập hữu tình nơi pháp Tam thừa. Hữu tình an trụ pháp Tam thừa rồi, giải thoát sanh tử chứng được Niết bàn. Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này do tinh tiến nên dù năng làm nghiệp lần lữa, tu học lần lữa, hành hạnh lần lữa như thế, mà quán tất cả đều bất khả đắc. Vì cớ sao? Vì tất cả pháp tự tánh vô vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này từ sơ phát tâm khi tu hành tĩnh lự Ba la mật đa, nên tự vào bốn tĩnh lự bốn vô lượng, bốn vô sắc định; cũng khuyên người vào bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn vô sắc định; xưng nêu chỉ rõ công đức vào bốn tĩnh lự, bốn vô lượng, bốn vô sắc định; vui mừng khen ngợi kẻ vào bốn tĩnh lự bốn vô lượng, bốn vô sắc định. Bồ tát Ma ha tát này an trụ bốn tĩnh lự bốn vô lượng, bốn vô sắc định, năng đem của vật thí các hữu tình đều khiến đầy đủ. Đã hành thí rồi, an trụ nhóm giới, an trụ an nhẫn, an trụ tinh tiến, an trụ nhóm định, nhóm huệ, nhóm giải thoát, nhóm giải thoát tri kiến. Do các nhóm giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến thanh tịnh nên vượt các Thanh văn và bậc Độc giác, thẳng vào Bồ tát Chánh tánh ly sanh. Vào ngôi Bồ tát Chánh tánh ly sanh rồi, mới năng nghiêm tịnh cõi Phật, thành thục hữu tình. Nghiêm tịnh cõi Phật, thành thục hữu tình được viên mãn rồi, mới năng chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề rồi, mới năng quay xe Chánh pháp. Do quay xe Chánh pháp nên an lập hữu tình nơi pháp Tam thừa. Hữu tình an trụ pháp Tam thừa rồi, giải thoát sanh tử chứng được Niết bàn. Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này do tĩnh lộ nên dù năng làm nghiệp lần lữa, tu học lần lữa, hành hạnh lần lữa như thế, mà quán tất cả đều bất khả đắc. Vì cớ sao? Vì tất cả pháp tự tánh vô vậy.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này từ sơ phát tâm khi tu hành Bát nhã Ba la mật đa, thí nhiều thứ của vật cho các hữu tình an trụ nhóm giới, an trụ an nhẫn, an trụ tinh tiến, an trụ nhóm định, nhóm huỷ nhóm giải thoát, nhóm giải thoát tri kiến. Tự hành bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát nhã Ba la mật đa; cũng khuyên người hành bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự bát nhã Ba la mật đa; xưng nêu chỉ rõ công đức bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự bát nhã Ba la mật đa; vui mừng khen ngợi kẻ hành bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự, bát nhã Ba la mật đa. Bồ tát Ma ha tát này do bố thí, tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự bát nhã Ba la mật đa sức phương tiện khéo léo nên vượt các Thanh văn và bậc Độc giác, thẳng vào Bồ tát Chánh tánh ly sanh. Vào ngôi Bồ tát Chánh tánh ly sanh rồi, mới năng nghiêm tịnh cõi Phật, thành thục hữu tình. Nghiêm tịnh cõi Phật, thành thục hữu tình được viên mãn rồi, mới năng chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề. Chứng được Vô thượng Chánh đẳng Bồ đề rồi, mới năng quay xe Chánh pháp. Do quay xe Chánh pháp nên an lập hữu tình nơi pháp Tam thừa. Hữu tình an trụ pháp Tam thừa rồi. giải thoát sanh tử chứng được Niết bàn. Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này do bát nhã nên dù năng làm nghiệp lần lữa, tu học lần lữa, hành hạnh lần lữa như thế, mà quán tất cả đều bất khả đắc. Vì cớ sao? Vì tất cả pháp tự tánh vô vậy.

Thiện Hiện! Đấy là Bồ tát Ma ha tát y hành sáu món Ba la mật đa làm nghiệp lần lữa, tu học lần lửa, hành hạnh lần lữa.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi làm việc lần lửa, tu học lần lữa, hành hạnh lần lữa. Từ sơ phát tâm. đem tác ý tương ưng Nhất thiết trí trí tin hiểu các pháp đều lấy vô tánh làm tự tánh, trước nên tu Phật tùy niệm, kế nên tu Pháp tùy niệm, kế nên tu Tăng tùy niệm, kế nên tu giới tùy niệm, kế nên tu xả tùy niệm, sau nên tu thiên tùy niệm.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát tu Phật tùy niệm là sao? Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này khi tu hành Bát nhã Ba la mật đa chẳng nên lấy sắc suy nghĩ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, chẳng nên lấy thọ tưởng hành thức suy nghĩ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Vì cớ sao? Thiện Hiện! Sắc vô tự tánh, thọ tưởng hành thức vô tự tánh. Nếu pháp vô tự tánh thời vô sở hữu, nếu vô sở hữu thời chẳng khá niệm. Sở dĩ vì sao? Thiện Hiện! Nếu không niệm, không suy nghĩ, đấy là Phật tùy niệm.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát chẳng nên lấy ba mươi hai tướng đại sĩ suy nghĩ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, chẳng nên lấy thân sắc chơn kim suy nghĩ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, chẳng nên lấy thân có thường quang bốn mặt đều một tầm suy nghĩ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, chẳng nên lấy tám mươi tùy hảo suy nghĩ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Vì cớ sao? Thiện Hiện! Tướng hảo, kim quang, sắc thân như thế đều vô tự tánh. Nếu pháp vô tự tánh thời vô sở hữu, nếu vô sở hữu thời chẳng khá niệm. Sở dĩ vì sao? Thiện Hiện! Nếu không niệm, không suy nghĩ, đấy là Phật tùy niệm.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát chẳng nên lấy nhóm giới suy nghĩ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, chẳng nên lấy nhóm định, nhóm huệ, nhóm giải thoát, nhóm giải thoát tri kiến suy nghĩ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Vì cớ sao? Thiện Hơn! Các nhóm như thế đều vô tự tánh. Nếu pháp vô tự tánh thời vô sở hữu, nếu vô sở hữu thời chẳng khá niệm. Sở dĩ vì sao? Thiện Hiện! Nếu không niệm, không suy nghĩ, đây là Phật tùy niệm.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát chẳng nên lấy năm nhãn, sáu thần thông suy nghĩ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Chẳng nên lấy Phật mười lực, bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, mười tám pháp Phật bất cộng suy nghĩ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Chẳng nên lấy đại từ, đại bi, đại hỷ, đại xả, suy nghĩ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Chẳng nên lấy pháp vô vong thất, tánh hằng trụ xả suy nghĩ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Chẳng nên lấy nhất thiết trí, đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí suy nghĩ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Vì cớ sao? Thiện Hiện! Các pháp như thế đều vô tự tánh. Nếu pháp vô tự tánh thời vô sở hữu, nếu vô sở hữu thời chẳng khá niệm. Sở dĩ vì sao? Thiện Hiện! Nếu không niệm không suy nghĩ, đấy là Phật tùy niệm.

Lại nữa, Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát chẳng nên lấy pháp duyên khởi suy nghĩ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác. Vì cớ sao? Thiện Hiện! Pháp duyên khởi đều vô tự tánh. Nếu pháp vô tự tánh thời vô sở hữu, nếu vô sở hữu thời chẳng khá niệm. Sở dĩ vì sao? Thiện Hiện! Nếu không niệm, không suy nghĩ, đấy là Phật tùy niệm.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát khi tu hành Bát nhã Ba la mật đa nên đối tu Phật tùy niệm đây, nên tu Phật tùy niệm như vầy, đấy là Bồ tát Ma ha tát làm nghiệp lần lữa. tu học lần lữa, hành hạnh lần lửa.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này khi làm nghiệp lần lữa. tu học lần lữa, hành hạnh lần lữa, thời năng viên mãn bốn niệm trụ; cũng năng viên mãn bốn chánh đoạn, bốn thần túc, năm căn, năm lực, bảy đẳng giác chi, tám thánh đạo chi. Thời năng viên mãn không giải thoát môn; cũng năng viên mãn vô tướng, vô nguyện giải thoát môn.

Thời năng viên mãn sơ tĩnh lự; cũng năng viên mãn đệ nhị, đệ tam, đệ tứ tĩnh lự. Thời năng viên mãn từ vô lượng; cũng năng viên mãn bi hỷ xả vô lượng. Thời năng viên mãn định không vô biên xứ; cũng năng viên mãn định thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng xứ. Thời năng viên mãn tám giải thoát; cũng năng viên mãn tám thắng xứ, chín thứ đệ định, mười biến xứ.

Thời năng viên mãn tất cả tam ma địa môn, cũng năng viên mãn tất cả đà la ni môn. Thời năng viên mãn bố thí Ba la mật đa; cũng năng viên mãn tịnh giới, an nhẫn, tinh tiến, tĩnh lự bát nhã Ba la mật đa.

Thời năng viên mãn nội không; cũng năng viên mãn ngoại không, nội ngoại không, không không, đại không, thắng nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cánh không, vô tế không, tán không, vô biến dị không, bổn tánh không, tự tướng không, cộng tướng không, nhất thiết pháp không, bất khả đắc không, vô tánh không, tự tánh không, vô tánh tự tánh không.

Thời năng viên mãn chơn như; cũng năng viên mãn pháp giới, pháp tánh, bất hư vọng tánh, bất biến dị tánh, bình đẳng tánh, ly sanh tánh, pháp định, pháp trụ, thật tế, hư không giới, bất tư nghì giới.

Thời năng viên mãn năm nhãn, cũng năng viên mãn sáu thần thông. Thời năng viên mãn Phật mười lực; cũng năng viên mãn bốn vô sở úy, bốn vô ngại giải, mười tám pháp Phật bất cộng. Thời năng viên mãn đại từ; cũng năng viên mãn đại bi, đại hỷ, đại xả.

Thời năng viên mãn pháp vô vong thất, cũng năng viên mãn tánh hằng trụ xả. Thời năng viên mãn nhất thiết trí; cũng năng viên mãn đạo tướng trí, nhất thiết tướng trí. Do đây chứng được nhất thiết trí trí.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát này lấy vô tánh làm tự tánh, vì sức phương tiện nên giác tất cả pháp đều vô tự tánh. Trong ấy không hữu tưởng, cũng lại không vô tưởng.

Thiện Hiện! Bồ tát Ma ha tát nên tu Phật tùy niệm như thế, nghĩa là với trong ấy hãy không chút niệm, huống có niệm Phật.

--- o0o ---

Tác giả bài viết: HT Thích Trí Nghiêm
Nguồn tin: Trang nhà Quảng Đức
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Giới thiệu

Giới thiệu về Thiền Lâm

LỜI NGỎ Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch chư Tôn đức Tăng Ni ! Kính thưa quý Phật tử và quý Thiện hữu tri thức ! Trong cuộc sống hiện đại, con người luôn bị thôi thúc, cuốn hút bởi rất nhiều thông tin từ mọi hướng nhưng không ai trong chúng ta lại không nhìn nhận rằng, công nghệ...

Thống kê

  • Đang truy cập: 101
  • Khách viếng thăm: 100
  • Máy chủ tìm kiếm: 1
  • Hôm nay: 1500
  • Tháng hiện tại: 214487
  • Tổng lượt truy cập: 21159051

Tin xem nhiều

Xem bản: Desktop | Mobile