Nguyền mong thân cận minh sư, quả Bồ Đề một đêm mà chín. Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa Ưu Đàm mấy kiếp đâm bông.
Rss Feed

Thiền Sư Thần Hội - Thần Hội ngữ lục phần IV

Đăng lúc: Chủ nhật - 04/12/2011 09:04 - Người đăng bài viết: Tịnh Cường
Thiền Sư Thần Hội - Thần Hội ngữ lục phần IV

Thiền Sư Thần Hội - Thần Hội ngữ lục phần IV

Theo các vị khác giải thích, Chân là không biến đổi, Như là hai thứ giống hệt nhau. Nhưng Ngài nói Chân là không thể biến đổi. “Không biến đổi” và “không thể biến đổi” khác nhau chỗ nào? Nói “không biến đổi” là không biến đổi ở trường hợp này, nhưng có thể sẽ biến đổi ở trường hợp khác. Còn “không thể biến đổi” là khẳng định cái chân thật này không bao giờ biến đổi trong bất kỳ trường hợp nào, đó mới gọi là chân.
Thần Hội Ngữ Lực Phần IV  (câu 41 - 55)
CHÁNH VĂN:
(41) Huyện lệnh Nội hương Trương Vạn Khoảnh hỏi: Chân như giống vật gì?
Đáp: Gần đây các vị Đại đức đạo tục đều nói, không biến đổi gọi là chân. Thần Hội thì chẳng thế. Nay nói chân là không thể biến đổi, nên gọi là chân. Gọi là như, từ trước các bậc Đại đức, đạo tục đều nói, hai vật giống nhau gọi là như. Nay Thần Hội thì chẳng vậy. Không có vật giống nhau gọi là như.
GIẢNG:
Theo các vị khác giải thích, Chân là không biến đổi, Như là hai thứ giống hệt nhau. Nhưng Ngài nói Chân là không thể biến đổi. “Không biến đổi” và “không thể biến đổi” khác nhau chỗ nào? Nói “không biến đổi” là không biến đổi ở trường hợp này, nhưng có thể sẽ biến đổi ở trường hợp khác. Còn “không thể biến đổi” là khẳng định cái chân thật này không bao giờ biến đổi trong bất kỳ trường hợp nào, đó mới gọi là chân.
Thế gian thường nói cái này giống cái kia là như. Ở đây Ngài khẳng định “không có vật giống nhau gọi là như”. Chữ “như” này không phải để so sánh đối đãi mọi sự vật, mà là Chân như nên không có vật gì có thể giống được. Tất cả sự vật trên thế gian đều có hình tướng nằm trong sanh diệt. Còn Chân như Phật tánh không có hình tướng, không dấy động nên không sanh diệt. Đã không có hình tướng, không dấy động thì có gì giống được. Không có gì giống được nên nói là Như.
Hiểu được nghĩa này chúng ta mới thấy tầm vóc cao cả của người tu. Nếu ai có tu, có những phút tâm thanh tịnh trong sáng, sẽ thấy không có gì để so sánh với tâm đó. Nói yên như nước mặt hồ cũng không phải vì còn có nước. Yên như cây cối lặng lẽ không có gió cũng không phải vì còn cây cối. Cái yên trong sáng thanh tịnh của nội tâm, không tướng, không hình dáng cho nên không có vật để đối chiếu, so sánh. Đó mới thật là cái bất sanh bất diệt của chính mình.
CHÁNH VĂN:
Lại hỏi: Phật tánh có hay không?
Đáp: Nghĩa Phật tánh chẳng có bờ mé, vì sao hỏi có không?
GIẢNG:
Phật tánh không có bờ mé, không có giới hạn, hỏi có hay không làm sao nói được.
CHÁNH VĂN:
Lại hỏi: Thế nào là nghĩa chẳng có bờ mé?
Đáp: Chẳng có chẳng không, là nghĩa chẳng bờ mé.
GIẢNG:
Hỏi thế nào là chẳng bờ mé? Câu này thật khó giải thích, nhưng Ngài đã giải thích thật khéo. Chẳng có chẳng không, đó là không bờ mé. Có và không là đối đãi nên nói chẳng có mà cũng chẳng không, cả hai đều phủ nhận hết. Phủ nhận chẳng có thì dễ hiểu, nhưng phủ nhận chẳng không hơi khó hiểu. Bởi chẳng không mới có Phật tánh, nếu không luôn thì đâu gọi là Phật tánh được. Ngài dùng ngôn ngữ rất là khéo.
CHÁNH VĂN:
Lại hỏi: Thế nào là chẳng có. Thế nào là chẳng không?
Đáp: Chẳng có là không nói đến có(1), chẳng không là không nói đến không. Cả hai đều chẳng thể được. Đó là nghĩa chẳng bờ mé.
GIẢNG:
Chẳng có là không nói đến có, chẳng không là không nói đến không, nghĩa là hai bên có và không đều bặt, đó mới là chỗ chẳng có chẳng không.
Cả hai đều chẳng thể được. Đó là nghĩa chẳng bờ mé.
Bởi không phải có, không phải không thì làm sao giới hạn được. Vì vậy nói Phật tánh không có bờ mé.
Ở đây, nếu theo cái nhìn cái hiểu của người thế gian thì không bao giờ hiểu nổi. Bởi thế gian luôn đứng trên lập trường có hoặc không. Ngài nói chẳng phải có, chẳng phải không làm sao người ta hiểu được. Nhưng thực tế ai sống được phút giây này mới thấy đây là lời nói chân thật. Vì khi tâm thanh tịnh rỗng lặng, lúc đó nói có là có cái gì? Đã thanh tịnh rỗng lặng thì có cái gì, nhưng nói không thì ai hiện đang biết đây. Chỗ này phải hành sâu trong đạo lý mới thấy giá trị của nó.
Ai tu tới chỗ tâm trong lặng sáng suốt mới thấu hiểu được nghĩa chẳng có chẳng không này. Nếu còn lơ mơ, trong tâm lúc nào cũng nhảy cũng chạy theo các hình tướng thì không bao giờ biết chỗ chẳng có chẳng không này. Ngó ra thì có vật, ngó vào thì có tâm, lăng xăng lộn xộn không dừng. Khi nội tâm trong sáng lặng lẽ, không một bóng dáng nào làm sao gọi là có. Không một bóng dáng nào mà rõ ràng thường biết làm sao gọi là không. Đó là ý nghĩa rất sâu xa. Người học đạo nghe được những lời này mới thấy đạo vô cùng thâm thúy.
CHÁNH VĂN:
(42) Môn nhân Thái Hạo thấy Võ Kiểu hỏi Thiền sư Trung nghĩa trung đạo.
Thiền sư Trung đáp: Có không đều dẹp, trung đạo cũng mất.
Lại hỏi: Đã trải qua năm sáu mươi năm là gì?
Thiền sư Trung đáp: Là không.
GIẢNG:
Tất cả chúng ta ai cũng đang sống hoặc hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm, năm sáu bảy mươi năm, như vậy khoảng thời gian mình sống đó có hay không? Có không đều dẹp, vậy là không có gì hết. Ngài đáp không. Như vậy trung đạo chưa?
CHÁNH VĂN:
Lại hỏi: Không lại có cái gì?
Đáp: Tưởng phi tưởng trọn có thức câu sanh(1).
Thiền sư Trung đáp lời như thế. Võ Kiểu đem câu hỏi này hỏi Hòa thượng.
Hòa thượng bảo: Võ bát lang! Từ tháng ba đến tháng mười chỉ hỏi một nghĩa này. Nay Thần Hội nói nghĩa này cùng Thiền sư Trung có khác.
Võ Kiểu hỏi: Sai khác thế nào?
Đáp: Có không biến đổi, trung đạo cũng mất, tức là vô niệm, vô niệm tức là nhất niệm, nhất niệm tức là Nhất thiết trí. Nhất thiết trí tức là Bát-nhã ba-la-mật sâu xa. Bát-nhã ba-la-mật tức là Như Lai thiền. Thế nên kinh nói: Phật dạy: “Thiện nam tử, ông lấy gì đồng quán Như Lai?” Duy-ma-cật thưa: “Như con quán Thật tướng của thân, quán Phật cũng như thế. Con quán Như Lai đời trước không đến, đời sau không đi, hiện tại tức không trụ.” Do không trụ tức Như Lai thiền. Như Lai thiền tức là nghĩa không đệ nhất. Nghĩa không đệ nhất là như vậy. Bồ-tát lớn phải suy nghĩ quán sát như thế, bậc thượng thượng thăng tiến, tự giác thánh trí.
GIẢNG:
Có không biến đổi, trung đạo cũng mất.
Có và không biến đổi, tới trung đạo đều hết, lúc đó là vô niệm. Người đời hoặc chấp có hoặc chấp không, hoặc chấp ở giữa là trung đạo. Tất cả các chấp đó lặng hết thì vô niệm. Vô niệm là gì? Tức là nhất niệm. Nhất niệm là gì? Là Nhất thiết trí. Dễ quá! Có vị nào thiếu Nhất thiết trí không? Tại sao có của quí mà chôn lấp không đem ra dùng? Ai cũng thừa nhận mình có Nhất thiết trí, mà ai cũng nói mình ngu. Sao vậy? Vì có của quí mà chôn sâu, cho nên nghe nói thì biết mà lấy lên chưa được.
Nhất thiết trí tức là Bát-nhã ba-la-mật sâu xa. Bát-nhã ba-la-mật tức là Như Lai thiền.
Như vậy không chấp có, không chấp không, không chấp trung đạo, tất cả các thứ chấp buông hết, lúc đó được vô niệm. Nói quanh co theo danh từ cho vui vậy thôi, chớ vô niệm tức là Như Lai thiền. Chủ yếu là đừng mắc kẹt có, không và trung đạo thì tâm được vô niệm, tức là Như Lai thiền.
Thế nên kinh nói: Phật dạy: “Thiện nam tử, ông lấy gì đồng quán Như Lai?” Duy-ma-cật thưa: “Như con quán Thật tướng của thân, quán Phật cũng như thế. Con quán Như Lai đời trước không đến, đời sau không đi, hiện tại tức không trụ.”
Đoạn này dẫn trong kinh Duy-ma-cật. Phật hỏi: Thiện nam tử, ông lấy gì đồng quán Như Lai? Ngài Duy-ma-cật thưa: Con quán Thật tướng của thân, quán Phật cũng thế. Thật tướng của con, Thật tướng của Phật cũng như nhau.
Như vậy Thật tướng của chúng ta và của Phật không khác.
Con quán Như Lai đời trước không đến, đời sau không đi, hiện tại không trụ, đó là Như Lai.
Như Lai là không mắc kẹt quá khứ, hiện tại, vị lai, tức không mắc kẹt ba thời. Như vậy có hay không? Thường thường người ta nói nếu không phải quá khứ là hiện tại, không phải hiện tại là vị lai. Nếu bảo đừng nhớ quá khứ, đừng tưởng vị lai, như vậy phải sống ngay trong hiện tại. Thế thì hiện tại có không?
Như chiếc xe ô tô đang chạy trên đường, người ngồi trên xe đố anh bạn bên cạnh. Đố anh ở sau là quá khứ, ngang đây là hiện tại, phía trước là vị lai, anh hãy chỉ thẳng chỗ nào là hiện tại? Chỉ được không? Vừa chỉ cây số bảy nó liền qua mất tiêu. Thành ra xe đang chạy thì không có cái hiện tại, vì nó luôn di chuyển. Không hiện tại thì quá khứ, vị lai có không? Cũng không có thật. Như vậy quá khứ, hiện tại, vị lai là một dòng thời gian sanh diệt, chớ không có thật, chỉ trên ngôn từ mà thôi.
Nói xa hơn, như quả địa cầu của chúng ta đang quay, vậy chỗ nào là hiện tại? Nói gần như đồng hồ cứ tíc tắc tíc tắc, cây kim nhích luôn thì cái gì là hiện tại. Hành tinh đang quay không dừng, thời gian là vòng quay không dừng ấy. Như vậy thời gian chỉ là cái giả định để tạm hiểu, tạm sống với nhau, chớ không phải cố định. Đã là giả định thì làm sao có thật? Đó là lẽ thật chúng ta cần phải thấu suốt.
Trong nhà Phật nói những gì còn thuộc thời gian là còn thuộc sanh diệt. Vậy mà chúng ta ngồi thiền nhìn đồng hồ hoài. Cái gì ngó đồng hồ? Cái tâm sanh diệt đó, nó mỏi mê nên cứ nhìn đồng hồ trông cho hết giờ. Nếu không có đồng hồ ở trước mắt thì lắng nghe tiếng kiểng, tiếng chuông. Như vậy chúng ta có lệ thuộc thời gian không? Chúng ta biết rõ thời gian không thật, mà đang hoàn toàn lệ thuộc vào thời gian. Lệ thuộc thời gian là lệ thuộc năm tháng, lệ thuộc tuổi tác, rồi lệ thuộc sanh tử luôn. Cứ vậy mà đi trong vòng sanh diệt không cùng. Do vậy muốn thoát khỏi vòng sanh tử phải đừng dính kẹt với thời gian. Không còn dính kẹt với thời gian thì mọi biến chuyển không còn làm khổ vui chúng ta được nữa.
Người không lệ thuộc thời gian thì đâu có buồn khi mình già, còn lệ thuộc thời gian thì có sanh có diệt, nên có già có bệnh có chết. Nếu không lệ thuộc thời gian thì cái nào tới mình cũng cười. Ngay lúc già cũng không thấy mình già, sắp chết cũng không sợ chết, vì không thấy cái chết là quan trọng nữa, như vậy có khổ không? Còn mình lệ thuộc thời gian, nhớ năm nào mình còn trẻ, bây giờ già yếu lụm cụm, buồn quá. Rồi mai mốt tới đau nằm trên giường bệnh thở thoi thóp, khổ không? Dòng chuyển biến đó làm cho mình đau khổ luôn. Còn nếu không thuộc ba thời, không thuộc bốn tướng sanh, già, bệnh, chết thì ta tự tại giữa cõi đời này. Nghe nói lát nữa tắt thở chết, ta cười “ừ, được”. Nhẹ nhàng thảnh thơi.
Chúng ta mang thân này là sung sướng hay là đau khổ? Tới bữa mà chưa có cơm, trong bụng rầy rà rồi, phải chạy kiếm dồn vô cho đầy. Đến lúc trả ra mà thiếu phương tiện cũng chạy ngược chạy xuôi. Không có đem vô cũng khổ, đem vô trả ra không được cũng khổ, như vậy sướng không? Đó là nói xuôi thuận, nếu lâu lâu trục trặc, đem vô không chịu vô, trả ra không chịu ra, lúc đó không biết nói sao. Đương nằm thở nhẹ nhàng bất thần có cái gì ngăn trở, thấy nghẹt nghẹt khó chịu rồi. Như vậy đủ thứ bất trắc, chớ sướng ích gì. Vậy mà bỏ đi thì tiếc lắm!
Nếu sắp bỏ thân này chúng ta tiếc là tiếc cái gì? Mới hôm qua ngồi thiền ra, tôi nói nếu ta sống một ngày được lợi ích nhiều cho bản thân, cho mọi người thì thêm một ngày là quí một ngày, mất một ngày thì tiếc một ngày. Còn nếu sống chỉ lo ăn ngủ hết ngày này qua ngày khác, như vậy kéo dài một trăm ngày, một triệu ngày cũng vô ích thôi.
Cho nên sống một ngày, đối với bản thân càng nhẹ nhàng thanh thoát, đối với mọi người càng nhắc nhở chỉ dạy được nhiều, sống như vậy thêm một ngày là quí một ngày. Người có tu mới thấy giá trị sự sống, không tu thấy sự sống như quí nhưng không có giá trị gì hết. Sống mà không biết mình làm gì thì sống càng nhiều càng vô ích, chỉ thêm nhọc nhằn thôi.
Như Lai thiền tức là nghĩa không đệ nhất. Nghĩa không đệ nhất là như vậy. Bồ-tát lớn phải suy nghĩ quán sát như thế, bậc thượng thượng thăng tiến, tự giác thánh trí.
Như Lai thiền tức là nghĩa không đệ nhất. Tại sao nghĩa không mà còn có đệ nhất, đệ nhị? Vì không đối với có là không tương đối. Còn cái không vượt cả có và không đối đãi, gọi là không đệ nhất. Cho nên đối với Như Lai thiền, chúng ta sống được thì không còn một tí nghiệp nào dẫn đi trong luân hồi sanh tử, huống là phiền não. Vì vậy gọi là không đệ nhất.
Nghĩa không đệ nhất là như vậy.
Không đệ nhất là Như Lai thiền. Như Lai thiền tức là vô niệm. Lục Tổ chủ trương vô niệm vi tông, tức vô niệm là chủ yếu. Người tu Như Lai thiền lấy vô niệm làm chủ. Từ vô niệm bước qua vô tướng, lấy vô tướng làm thể. Bởi vô niệm không còn tướng mạo sanh diệt, trùm khắp nên gọi là vô tướng, thể của nó không tướng. Sống với chỗ vô niệm thì đối với sáu trần bên ngoài không vướng mắc nên gọi là vô trụ. Như vậy trọng tâm là vô niệm, hai phần kia phụ theo sau.
Vô niệm từ đâu mà có? Vô niệm có sẵn nơi mình nhưng vì hữu niệm dấy lên ta quên mất vô niệm. Bây giờ phải làm sao đây? Nắm vững chỗ này thì trên đường tu không còn nghi ngờ gì nữa. Tuy có vô niệm sẵn nhưng chúng ta chưa bao giờ sử dụng được, sống được với nó. Bây giờ muốn sống được, sử dụng được vô niệm thì phải dẹp sạch những vọng niệm che phủ nó. Như mặt gương nguyên là sáng, nhưng vì cả trăm lớp bụi phủ nên thành tối. Bây giờ muốn hết tối, phải chịu khó lau gương. Nói lau gương là nói theo ngài Thần Tú. Còn theo Lục Tổ thì gương sẵn sáng, lau là lau bụi chớ không phải lau gương.
Đó là điều hết sức thâm trầm, cái sẵn của mình tự thuở nào, không sanh không diệt, bây giờ bị những giả tướng sanh diệt phủ che, khuất lấp nên không thấy được. Nếu ta dẹp hết các thứ phủ che thì tự nhiên nó hiện tiền đầy đủ, không phải ai cho hay ta làm ra mới được. Nếu ai cho là của bên ngoài, nếu làm ra mới được là tạo tác sanh diệt. Cho nên chỗ này Lục Tổ không giống với ngài Thần Tú.
Ngài Thần Tú nói phải lau gương thì gương mới sáng, như vậy vô tình ta sẽ hiểu lầm gương sáng là nhờ lau bụi, đó là tạo tác rồi. Mà tạo tác thì không phải chân thật. Gương vốn sáng sẵn, dù có bụi phủ lên nó vẫn sáng. Cho nên Lục Tổ nói Bản lai vô nhất vật, tức xưa nay không là vật gì hết. Những thứ phủ che chỉ là đồ chơi bên ngoài, dẹp phủ che là dẹp bụi. Có bụi không bụi gương vẫn sáng. Đó là cái sáng bản nhiên chớ không phải cái sáng mới tạo. Nói đợi lau bụi mới sáng đó là cái sáng mới tạo. Chỗ này rất là thâm thúy, nếu chúng ta học không thấu thì đọc sách của chư Tổ sẽ không hiểu.
Như vậy chúng ta do công phu tu, nỗ lực dẹp phiền não mới được giác ngộ phải không? Tu là cuối cùng đến chỗ vô sở đắc. Kinh Bát-nhã nói “dĩ vô sở đắc cố”, nghĩa là không có sở đắc. Tu không sở đắc mới là Bồ-tát, mới thành Phật. Tại sao vô sở đắc? - Vì chúng ta tu là dẹp bỏ loạn tưởng, loạn tưởng hết thì cái chân thật sẵn có hiện ra, chớ được gì đâu. Cái chân thật đó không phải trước không, sau nhờ tu mới có. Nếu trước không, sau nhờ tu mới được thì có sở đắc. Lâu nay chúng ta thường kẹt chỗ được này lắm. Tu không được gì thì tu làm chi. Nói tới tu thì phải được thành Thánh, thành Phật mới chịu. Nhưng chỗ cứu kính của đạo Phật không phải vậy.
Sự tu thấy dường như khó nhưng thật sự rất dễ. Tại sao khó? Tại vì ta nghĩ rằng mình tham lam, nóng giận, si mê từ thuở nào đến giờ nên rất khó bỏ. Nhưng thật sự không khó gì hết. Vì tham, sân, si, mạn, nghi, ác kiến v.v… những thứ phiền não đó đều mới đem vô, mới dính mắc đây thôi, còn cái sẵn có từ thuở nào đến giờ của mình là Tánh giác. Nếu Tánh giác phải tạo thì khó, đằng này nó có sẵn, còn cái phủ che là bên ngoài lấp vào, không phải bản chất nên tháo gỡ dễ.
Ví như cha mẹ cho ta một hột kim cương năm mười ly gì đó, chỉ chỗ chôn đàng hoàng. Ta biết chắc như vậy rồi, chịu khó đào bới dù chỗ đó đất cứng, đá sỏi nhưng vẫn không ngán. Tại sao không ngán? Bởi tin chắc có của quí nên đào không ngán. Chỉ khi nào không biết chắc, không đủ lòng tin thì đào ngán lắm, hai ba cuốc là muốn bỏ rồi.
Cũng thế ta biết chắc mình có sẵn tánh Phật rồi dù tu cực khổ mấy cũng không ngán. Bây giờ chỉ cần tách gạt những phiền não ra thì ông Phật hiện rõ ràng, chuyện tu như vậy có khó không? Vì vậy chủ yếu của người tu là phải nhận được cái chân thật của chính mình, nhận được thì sự tu bất thối chuyển. Không nhận được thì việc tu rất dễ thối chuyển. Chư vị Bồ-tát bất thối chuyển là vì các ngài nhận được tánh Phật của mình, nên tu hoài muôn kiếp muôn đời không ngán chút nào hết, vì nhất định sẽ được. Còn chúng ta không chắc, vì chưa nhận được tánh Phật của mình nên tu sơ sơ gieo duyên vậy thôi.
Người tu không thâm nhập được chỗ này, dễ bị ngoại cảnh lôi kéo. Ngược lại nếu thâm nhập, thấy rõ chỗ này rồi thì tất cả mọi thứ trên thế gian không làm ô nhiễm mình được. Khó hay dễ là ở chỗ có nhận ra hay không nhận ra Tánh thật của mình thôi. Cho nên quan trọng ở đây là phải nhận chân được giá trị thật.
Chúng ta có khả năng làm được điều đó mà không làm, thả trôi trong luân hồi trăm ngàn muôn kiếp. Đó là tại mình chớ có trách ai. Chúng ta phải có cái nhìn cho đúng đắn, đủ con mắt chánh pháp thì việc tu mới đúng như sở nguyện. Nếu đủ lòng tin để vươn lên thì nhất định việc tu không khó.
Thử hỏi cái gì che phủ làm cho mình mất vô niệm? Ta đổ thừa phiền não. Cái gì sanh ra phiền não? Do si mê sanh phiền não. Vì vậy mỗi đêm phải tụng Bát-nhã, để thấy rõ thân năm uẩn không thật, tất cả pháp không thật như mười hai nhập, mười tám giới, mười hai nhân duyên, Tứ đế v.v… tất cả đều không thật. Thấy tường tận các pháp không thật thì còn phiền não không? Đừng nói tất cả pháp, chỉ thân sắc thọ tưởng hành thức uẩn này thấy nó không thật, thì phiền não cũng sạch nhiều lắm rồi.
Nếu thấy thân không thật, thì khen chê đối với mình không có giá trị. Nếu thấy thân thật thì phiền não sẽ theo các sự khen chê mà sanh. Rõ ràng vì chúng ta không tận dụng Trí tuệ Bát-nhã soi thấu lẽ thật nơi con người mình nên sanh phiền não. Phiền não sanh thì che phủ vô niệm. Như vậy bước đầu phải phá chấp si mê sai lầm, rồi phiền não sẽ sạch sau. Không phá được si mê tu tới già, phiền não vẫn là phiền não. Nhiều khi tu càng lâu phiền não càng đậm nữa. Tại sao? Vì thấy mình lớn, mấy chục tuổi Hạ mà người mới tu gặp không xá không lạy, la mắng người ta. Như vậy tu càng lâu phiền não càng nhiều, chớ không hết phiền não.
Bồ-tát lớn phải suy nghĩ quán sát như thế, bậc thượng thượng thăng tiến, tự giác thánh trí.
Bậc thượng thượng thăng tiến tự giác thánh trí, tức là tự giác trí thánh của chính mình.
CHÁNH VĂN:
(43) Huyện lệnh Lạc Dương là Từ Ngạc hỏi: Tất cả chư Phật và pháp Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác của chư Phật, đều từ kinh này ra, chẳng rõ Phật có trước hay là pháp có trước, nhờ giáo lý nào mà thành đạo. Nếu là pháp có trước, pháp do người nào nói?
Đáp: Nếu luận về pháp văn tự, thì Phật có trước pháp có sau. Nếu luận về pháp tịch diệt, thì pháp có trước Phật có sau. Lại muốn rõ nghĩa kinh, kinh nói: Thầy của chư Phật gọi là pháp, do pháp thường nên Phật cũng thường. Phật nhờ giáo lý nào mà thành đạo? Kinh đã nói: Chúng sanh có Vô sư trí, có Tự nhiên trí. Chúng sanh nương nơi Tự nhiên trí mặc tình tu tập, nghĩa là do pháp tịch diệt, mà được thành Phật. Phật liền đem pháp này, truyền dạy giáo hóa chúng sanh. Chúng sanh nương theo lời Phật dạy tu tập, được thành chánh giác.
GIẢNG:
Nếu luận về văn tự, kinh điển thì Phật có trước pháp có sau, vì kinh từ Phật nói. Nếu luận về pháp tịch diệt thì pháp có trước Phật có sau. Pháp tịch diệt là pháp chân thật bất sanh bất diệt, pháp đó có trước Phật có sau.
Muốn rõ Ngài dẫn kinh nói:
Thầy của chư Phật gọi là pháp, do pháp thường nên Phật cũng thường. Phật nhờ giáo lý nào mà thành đạo? Kinh đã nói: Chúng sanh có Vô sư trí, có Tự nhiên trí. Chúng sanh nương nơi Tự nhiên trí mặc tình tu tập, nghĩa là do pháp tịch diệt mà được thành Phật.
Vậy pháp tịch diệt là pháp gì? Là Vô sư trí, là Tự nhiên trí. Phật tu khi tâm thanh tịnh thì Vô sư trí, Tự nhiên trí hiện ra. Tự nhiên trí tịch diệt rỗng lặng nên gọi là pháp tịch diệt. Nhờ Tự nhiên trí hay Vô sư trí hiện ra, thấy tất cả lẽ thật của thế gian, đem dạy bảo cho chúng sanh tu, đó là pháp của Phật nói.
Như vậy trước có Tự nhiên trí, Vô sư trí. Sau khi ngộ được trí ấy rồi, đem chỗ thấy biết đó chỉ dạy cho người nên pháp có sau. Phật có trước pháp có sau là lời dạy sau khi Phật ngộ được Vô sư trí, Tự nhiên trí.
Chúng ta ai cũng nhìn nhận mình có Tự nhiên trí, Vô sư trí tức là có Phật. Nhưng tối ngày cứ lên chùa lạy Phật hoài, còn ông Phật của mình thì bỏ quên, có buồn không? Phật của mình mà mình không đoái hoài thì có thương mình đâu! Chúng ta tu cốt thành Phật mà ông Phật sẵn trong nhà không ngó ngàng tới, cứ đem chuông đem mõ đến nhà khác cầu Phật ở đâu đâu. Vậy là trung thành hay phản bội với Phật của mình? Rõ ràng là phản bội rồi. Đó là một lầm lẫn lớn lao mà đa số người tu bây giờ mắc phải.
Làm sao biết chắc mình có Tự nhiên trí, Vô sư trí? Lấy gì làm bằng chứng? Có bằng chứng cụ thể. Đức Thích-ca Mâu-ni đi học đạo bao nhiêu năm, không đạt bản nguyện của mình, Ngài mới thiền định dưới cội bồ-đề, lúc đó có ai tới dạy Ngài không? - Không có. Nhờ thiền định sâu bỗng nhiên sáng ra. Trí tự nhiên, Trí vô sư hiện tiền nên thấy biết tất cả. Rõ ràng không ai dạy mà nhờ tu, tâm lắng lặng nên Phật đạt được quả Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.
Phật là người, chúng ta cũng là người. Phật tuyên bố Ngài có Tự nhiên trí, Vô sư trí thì chúng ta cũng có Tự nhiên trí, Vô sư trí. Vì vậy Phật nói “ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”, không nghi ngờ gì hết. Đó là một lẽ thật. Bởi chúng ta tự ti mặc cảm một cách đáng thương, thấy mình thấp hèn nên bỏ quên khả năng thành Phật của mình.
Đức Phật nói những lời ấy không phải để tự nâng mình, mà Ngài muốn chúng ta đừng mặc cảm, mình không thể thành Phật. Có chỗ khác nói “tất cả chúng sanh đều đã thành Phật”. Đã thành Phật sao bây giờ còn ngồi đây? Đã là nhìn thẳng tới chỗ tột cùng Trí vô sư của mình, Phật thấy chúng ta đã có, đã có là đã thành chớ gì. Nhưng tại vì chưa đem ra, còn để trong tủ nên chưa dùng được.
Cũng như anh em trong nhà được cha mẹ cho của quí, ai cũng giấu kín quá nên quên không biết chỗ nào. Người nhớ đem của quí ra bán dùng thành giàu. Người quên không biết cất ở đâu, phải lang thang đói khổ. Khi gặp lại, anh em nhắc đến của quí cha mẹ đã cho, người ấy sực nhớ chỗ chôn giấu, ngay đó đã thành giàu rồi. Cái nghèo trước là nghèo tạm thôi, nếu biết lấy của quí ra dùng thì giàu như nhau. Cho nên lời nói đó không phải Phật muốn nâng chúng ta lên, mà Ngài nói thật.
Tôi thấm nhất là Bồ-tát Thường Bất Khinh gặp ai cũng xá nói: “Tôi không dám khinh các ngài, vì các ngài đều sẽ thành Phật.” Lời nói thật nhưng chẳng những người nghe không hoan hỉ mà còn muốn đánh đập Ngài, vì họ cho rằng đó là lời nói đùa hay dối gạt. Để thấy chúng ta nông nổi, cạn cợt, không dám tự nhận mình có Tâm chân thật, cứ chạy theo những bóng dáng bên ngoài nên không nhận ra ông Phật nơi chính mình.
CHÁNH VĂN:
(44) Thái thú Nam Dương là Vương Bật hỏi: Kinh Lăng-già nói nghĩa sanh, trụ, dị, diệt như thế nào?
Đáp: Nghĩa này có hai trường hợp.
Lại hỏi: Hai trường hợp thế nào?
Đáp: Khi người thọ thai gọi là sanh, lớn lên đến ba mươi tuổi gọi là trụ, tóc bạc da nhăn gọi là dị, vô thường đến nơi gọi là diệt. Giống như hạt lúa mới nảy mầm, tức là nghĩa sanh. Đã sanh rồi liền trụ, đó là nghĩa trụ. Sanh rồi tức khác với khi chưa sanh, đó là nghĩa dị. Khi sanh đã chứa diệt, tức là nghĩa diệt. Bồ-tát lớn phát tâm Bát-nhã ba-la-mật đã đầy đủ nghĩa bốn tướng này.
Lại hỏi: Thiền sư là thuyết thông hay tông thông?
Đáp: Nay chỗ tôi nói thuyết cũng thông, tông cũng thông.
Lại hỏi: Thế nào là thuyết thông, thế nào là tông thông?
Đáp: Miệng nói Bồ-đề, tâm không chỗ trụ; miệng nói Niết-bàn, tâm chỉ tịch diệt; miệng nói giải thoát, tâm không hệ phược, tức là thuyết thông tông chẳng thông.
Lại hỏi: Thế nào là tông thông?
Đáp: Chỉ rõ Tự tánh vốn không tịch, trọn không nên khởi quán tức là tông thông.
GIẢNG:
Miệng nói Bồ-đề, tâm không chỗ trụ; miệng nói Niết-bàn, tâm chỉ tịch diệt; miệng nói giải thoát, tâm không hệ phược, tức là thuyết thông tông chẳng thông.
Nếu miệng nói và tâm được như vậy, tức được Bồ-đề rồi. Miệng nói là thuyết thông, tâm không chỗ trụ là tông thông, tại sao Ngài nói chỉ là thuyết thông, chớ chưa phải tông thông.
Lại hỏi: Thế nào là tông thông?
Đáp: Chỉ rõ Tự tánh vốn không tịch, trọn không nên khởi quán tức là tông thông.
Chỗ này là chỗ kỳ đặc. Tông thông là gì? Tức rõ được tánh không tịch, chớ không nói Niết-bàn không tịch để ta nhìn quán cái không tịch đó. Tông thông là phải nhận phải thấu suốt Tánh chân thật của chính mình, đó mới là tông thông. Còn nói còn quán chiếu để được thì tông chưa thông.
Thiền tông chủ yếu phải được tông thông. Người tu thiền phải nhận chân được mình có cái chân thật sẵn đủ, rồi đem ra ứng dụng mới là tông thông. Nếu không nhận được cái đó, chỉ nghe Phật dạy rồi quán cho được lặng lẽ, thanh tịnh thì chưa phải là tông thông.
Như vậy y theo kinh quán chiếu tu tập, đạt được chỗ Phật nói gọi là thuyết thông. Còn nhận chân được cái thật sẵn nơi mình, tự biết, tự ứng dụng, đó là tông thông.
CHÁNH VĂN:
Lại hỏi rằng: Chính khi nói, đâu chẳng phải sanh diệt ư?
Đáp: Kinh nói: Khéo hay phân biệt các pháp tướng, ở nơi đệ nhất nghĩa mà chẳng động.
GIẢNG:
Hỏi nói tất cả, phân biệt tất cả mà nơi đệ nhất nghĩa không động, đâu không phải sanh diệt ư? Thật ra chỗ này có hai phần rõ rệt.
Như chúng ta nghe trong kinh Phật dạy muốn được tâm thanh tịnh phải buông xả hết phiền não, nghiệp chướng. Ta thực hành đúng như vậy được thanh tịnh, đó là thuyết thông hay tông thông? Nghe Phật nói mình làm, đó là thuyết thông. Bây giờ cũng nghe Phật Tổ dạy, nhưng nhận chân cái thật ngay nơi chính mình trước, rồi sau mới ứng dụng tu, nghĩa là tu trong cái thật thấy thật biết của mình, đó gọi là tông thông.
Như trước đã nói ví dụ hòn ngọc quí, mình biết chắc hòn ngọc nằm ở đâu rồi mới đào thì kết quả không nghi. Còn nghe nói có hòn ngọc quí mà không biết chỗ nào, cứ đào đại. Đào như thế, đôi khi cũng tới nhưng chưa thấy mặt ngọc thì vẫn còn nghi. Nên biết chắc mà đào vững tin hơn không biết mà đào.
CHÁNH VĂN:
(45) Trưởng sử Dương Châu là Vương Di hỏi: Phật tánh đã ở trong tâm chúng sanh. Nếu khi chết rồi vào địa ngục. Phật tánh kia bị vào hay không vào?
Đáp: Thân là thân hư vọng, tạo nghiệp địa ngục cũng là tạo nghiệp hư dối.
GIẢNG:
Câu hỏi cũng khó trả lời. Người tạo nghiệp địa ngục, chết rồi xuống địa ngục, Phật tánh có xuống với người đó không? Nếu Phật tánh có xuống thì Phật tánh đọa địa ngục sao?
Ngài đáp: Thân hư vọng, nghiệp hư dối thì địa ngục cũng hư dối. Ba cái dối có chi phối được cái thật không? - Không.
CHÁNH VĂN:
Hỏi: Đã tạo nghiệp hư dối, thì người vào đó là vào cái gì?
Đáp: Người đó là vào hư dối.
Hỏi: Đã là vào hư dối, tánh ở chỗ nào?
Đáp: Tánh không lìa vọng.
Hỏi: Phải đồng vào chăng?
Đáp: Tuy đồng vào mà không thọ nhận.
Hỏi: Đã không lìa vọng, làm sao được có vào mà không thọ nhận?
Đáp: Thí như trong mộng bị đánh đập, do thân ngủ nên không hay biết. Phật tánh kia tuy đồng vào mà không thọ tội; nên biết tạo tội là hư vọng, địa ngục cũng hư dối. Cả hai đều là vọng thọ vọng, vọng do quên chân, tánh vốn không thọ.
GIẢNG:
Chỗ này rất hay, mà phải biết thật kỹ mới thấy cái hay của nó. Hỏi Phật tánh không lìa vọng, làm sao vào mà không thọ nhận được? Không lìa vọng nên vọng vào địa ngục thì Phật tánh cũng phải vào, tại sao không thọ?
Ngài dùng ví dụ quá hay, như chúng ta ngủ nằm mộng. Thân này dụ cho Phật tánh, mộng dụ cho thân và nghiệp. Khi mộng mình thấy bị đánh đập nhừ tử, nhưng thật ra thân không có sao hết. Tuy thân không lìa mộng, mà mộng bị đánh đập chớ thân không bị. Tại sao? Vì mộng là dối, thân là thật. Cái dối không chi phối được cái thật.
Cho nên Ngài giải thích:
Phật tánh kia tuy đồng vào mà không thọ tội; nên biết tạo tội là hư vọng, địa ngục cũng hư dối. Cả hai đều là vọng thọ vọng, vọng do quên chân, tánh vốn không thọ.
Chân đâu có thọ vọng. Như chúng ta ngủ mộng được mời ăn tiệc. Dự tiệc no bụng rồi về, giật mình thức dậy thân này có được ăn ngon như trong tiệc không? Mộng là hư dối, tuy trong hư dối có đủ thứ, nhưng trên cái thật không dính dáng gì. Thí dụ mộng rất là thấu đáo.
CHÁNH VĂN:
(46) Pháp sư Chí Đức hỏi: Thế nào là nghĩa sanh, trụ, dị, diệt?
Đáp: Sanh, trụ, dị, diệt nói cho đúng là một. Do có một nên có bốn. Vô minh từ vô thủy nương Như Lai tàng, nên khi một niệm vi tế sanh thì khắp tất cả chỗ. Chúng sanh trong sáu đường đã tạo nghiệp, không hay không biết, không nơi nào chẳng khắp, cũng chẳng hay chẳng biết. Từ đâu đến đây, đi đến chỗ nào? Chúng sanh này biết rõ có sáu đường. Vì sao như thế? Chúng sanh nhớ biết hết khổ vui trong sáu đường, vì từng thọ nhận. Nên biết nhờ thức mà có sanh trụ đến đi. Chân thức như như, trọn không đến đi sanh diệt. Giống như khi người nhắm mắt ngủ, tâm vô minh khắp tất cả chỗ, khi tỉnh giấc có thô tế nên khắp mà chẳng khắp. Như hạt lúa khi mới nẩy mầm tức có nghĩa sanh, đã sanh rồi tức trụ cái sanh kia. Khi trụ tức dị chưa sanh, trong cái sanh đã hàm chứa nghĩa diệt. Đây tức nghĩa sanh, trụ, dị, diệt.
GIẢNG:
Hỏi bốn tướng sanh, trụ, dị, diệt. Ngài đáp sanh, trụ, dị, diệt nói cho đúng là một. Do có một nên có bốn. Như vậy một là cái gì?
Vô minh từ vô thủy nương Như Lai tàng, nên khi một niệm vi tế sanh thì khắp tất cả chỗ.
Do một niệm vi tế sanh mà có sanh, trụ, dị, diệt. Bốn thứ kia có từ cái đầu là một niệm vô minh. Khi một niệm vô minh dấy khởi thì đi trong sáu đường sanh tử, đến đâu nó cũng theo. Vào địa ngục thì biết cảnh khổ địa ngục, lên cõi trời thì biết cái vui cõi trời… Ở đâu nó cũng biết hết, rồi chứa trong Tàng thức mà mang tới nơi này nơi kia, phải chịu sanh, trụ, dị, diệt.
Nhưng trong đó có Chân thức như như, trọn không đến đi sanh diệt. Từ niệm vô minh tạo ra nghiệp thức dẫn đi trong sanh tử, chớ Chân thức thì không đến không đi. Ngài ví dụ:
Giống như khi người nhắm mắt ngủ, tâm vô minh khắp tất cả chỗ, khi tỉnh giấc có thô tế nên khắp mà chẳng khắp.
Như khi mình ngủ tâm vô minh, tức tâm mờ tối trùm khắp hết cả thân. Khi ngủ thì toàn thân đều ngủ mê nên Ngài dùng từ “tâm vô minh”. Khi tỉnh dậy cái biết có thô tế, chỗ này biết chỗ kia không biết, nên không cùng khắp.
Như hạt lúa khi mới nẩy mầm tức có nghĩa sanh, đã sanh rồi tức trụ cái sanh kia… từ đó mà có sanh, trụ, dị, diệt. Như vậy vô minh là cái một. Dấy niệm vô minh là một, nhưng khi đi trong luân hồi sanh thức thì có thô tế khác nhau: thức thô thức tế, cái biết cái không biết. Từ đó mà có sanh, trụ, dị, diệt.
Chỗ này tôi nhắc lại một lần nữa. Ngài nói rằng sanh, trụ, dị, diệt sở dĩ có là từ một niệm vô minh ban đầu. Rồi mê chạy theo vọng thức tạo đủ thứ nghiệp, luân hồi trong sanh tử. Vô minh ban đầu ví dụ như người ngủ. Mê thì có một nên chỉ có một vô minh. Nhưng khi thức dậy thì đủ thứ: biết cái này biết cái kia, biết cái thô biết cái tế… Như vậy sai biệt sanh, trụ, dị, diệt là khi mình khởi đi trong sanh tử, còn bắt đầu từ vô minh thì chỉ có một. Nên nói sanh, trụ, dị, diệt đều hàm chứa sẵn trong vô minh.
CHÁNH VĂN:
(47) Pháp sư Viễn hỏi: Thế nào là không hết hữu vi, vì sao không trụ vô vi?
Đáp: Không hết hữu vi là từ khi sơ phát tâm, đến cội bồ-đề thành Đẳng chánh giác, thẳng tới Song lâm nhập Niết-bàn, đối với tất cả điều thiện đều không bỏ sót, tức là không hết hữu vi. Không trụ vô vi là tu học không, mà không lấy không làm chỗ chứng, tu học vô tác mà không lấy vô tác làm chỗ chứng, tức không trụ vô vi, khi ngồi niệm không khởi là tọa, thấy Bản tánh là thiền.
GIẢNG:
Chúng ta tu để đạt đạo, nhập Niết-bàn tức là vô vi. Nhưng từ khi phát tâm tu cho tới khi đạt đạo, có nên làm việc lành không? Ngài dạy suốt một thời gian dài không một điều lành nào ta bỏ, đó là không hết hữu vi.
Không trụ vô vi tức là chúng ta tu học các pháp vô vi, nào là quán các pháp không, vô tác, nhưng không trụ, không chứng chỗ không, chỗ vô tác. Đó gọi là vô vi. Không hết hữu vi, không trụ vô vi là như vậy.
CHÁNH VĂN:
(48) Pháp sư Viễn hỏi: Thiền sư tu pháp gì. Hành pháp gì?
Hòa thượng đáp: Tu Bát-nhã ba-la-mật, hành Bát-nhã ba-la-mật.
Pháp sư Viễn hỏi: Vì sao không tu pháp khác, không hành pháp khác?
Hòa thượng đáp: Tu hành Bát-nhã ba-la-mật, hay nhiếp tất cả pháp. Hành hạnh Bát-nhã ba-la-mật, tức là căn bản tất cả hạnh. Thế nên, Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật là tối tôn, tối thắng, tối đệ nhất, không sanh không diệt, không đến đi, tất cả chư Phật từ trong này mà ra.
GIẢNG:
Tại sao tu thiền gọi là tu Bát-nhã ba-la-mật, hành Bát-nhã ba-la-mật. Bát-nhã ba-la-mật là Trí tuệ rốt ráo hay Trí tuệ cứu kính. Bởi lâu nay chúng ta vì mê lầm nên mới đi trong sanh tử luân hồi. Ngày nay muốn ra khỏi luân hồi sanh tử thì phải dùng trí tuệ. Trí tuệ này là Trí tuệ cứu kính cùng tột, chớ không phải trí tuệ của thế gian.
Trong kinh Kim Cang nói: “Phàm sở hữu tướng giai thị hư vọng. Nhược kiến chư tướng phi tướng tức kiến Như Lai.” Tất cả tướng ở thế gian đều là duyên hợp, hư giả nên Tự tánh nó là không. Vì vậy thấy tất cả tướng phi tướng, tức không phải tướng thật. Thấy rõ như thế là có Trí tuệ cứu kính tức Trí tuệ Phật. Nên gọi thấy Phật.
Bát-nhã là trí tuệ tột cùng thấu suốt tất cả pháp thế gian, không có một tướng thật. Từ cảnh cho tới thân và tâm sanh diệt đều thấy không thật. Thấy tột cùng như vậy gọi là tu Bát-nhã, là Phật. Tại sao? Vì Trí tuệ Phật là trí tuệ tột cùng không còn chỗ nào ngăn ngại. Nếu chúng ta thấy được tột cùng như vậy là Trí tuệ Phật rồi.
Lại nữa, tu Phật là để cứu kính giải thoát sanh tử. Nếu còn nhìn tất cả pháp là thật, là đẹp, là xấu, là hay, là dở v.v… thì chúng ta còn đi trong phân biệt, tạo nghiệp luân hồi sanh tử. Giờ đây chúng ta thấy tất cả pháp đều hư dối không thật, tột cùng chỉ là thể tánh không, duyên hợp tạm có. Tất cả pháp không thật rồi, lúc đó còn gì để mình giác ngộ, giải thoát. Cái thấy tất cả pháp như mộng như huyễn, không có Tự tánh, cái thấy đó là Như Lai rồi.
Ngày nay chúng ta thấy cái này thật cái kia giả, đối đãi như vậy là thấy trong sanh diệt. Thấy trong sanh diệt là cái thấy của phàm phu. Thấy tột cùng không còn gì vướng mắc, không còn gì phân biệt là Tâm thanh tịnh bản nhiên rồi. Tâm đó không còn sanh diệt nữa vì đâu còn bám, đâu còn dính với pháp sanh diệt. Như vậy cái thấy đó là Phật.
Tất cả chúng ta có quyền thấy như vậy không? Ai cũng có quyền thấy hết, tại sao không chịu thấy? Cứ thấy thật rồi đâm ra phiền não, thương ghét đủ thứ hết. Những người ngồi đây năm chục năm sau còn đủ không? Chừng đó đi đâu? Thành cát, thành bụi rõ ràng có thật đâu. Vậy mà chúng ta cứ thấy thật rồi sanh ra thương ghét, bị nghiệp dẫn đi trong sanh tử.
Bây giờ chúng ta thấy đúng như thật, tất cả những gì hiện có đều tạm bợ, hư dối. Ngày nay thấy đó, ngày mai chưa chắc còn. Thấy rõ ràng các pháp không thật là thấy đúng như thật. Thấy tất cả pháp vô thường, cái thấy vô thường không phải vô thường. Chỗ này chúng ta phải hiểu, chớ đừng lầm. Nói thấy tất cả huyễn hóa hết thì còn gì mà tu, đó là sai lầm. Chính thấy huyễn hóa mới tu, đang tu. Còn thấy thật là đang dính, đang phàm phu, chớ không phải đang tu.
Cho nên Ngài nói tu Bát-nhã ba-la-mật, hành Bát-nhã ba-la-mật. Thấy được các pháp không thật là cái thấy chân thật. Nói chân thật là nói theo đối đãi, chớ khi hết đối đãi, không nói thật hư gì cả. Đó là pháp Bát-nhã ba-la-mật. Ngài dẫn kinh Bát-nhã để làm chứng.
CHÁNH VĂN:
Kinh Thắng Thiên Vương Bát-nhã, hỏi: “Vì sao Bồ-tát lớn học Bát-nhã ba-la-mật, thông đạt pháp giới sâu xa?
Phật bảo Thắng Thiên Vương:
- Đại vương! Tức là như thật.
GIẢNG:
Hỏi tại sao Bồ-tát học pháp Bát-nhã, thông đạt được pháp giới sâu xa? Phật bảo vì Bát-nhã ba-la-mật đó tức là như thật. Cái biết tất cả huyễn thì không huyễn, cũng như mũi khoan bằng kim cương hay khoan bể sắt, bể đá… Tất cả bị nó phá hết nhưng không gì phá được nó. Vì nó hay phá tất cả nên là chủ của tất cả. Bây giờ chúng ta dùng Trí tuệ Bát-nhã soi thấy tất cả đều hư dối, thì trí Bát-nhã đó không phải hư dối. Thấy như vậy, mới hiểu được câu Phật đáp đơn giản: “Đại vương! Tức là như thật.” Tất cả cái kia đều huyễn hóa, chỉ cái này là thật.
CHÁNH VĂN:
- Bạch Thế Tôn! Vì sao như thật?
- Đại vương! Tức không biến đổi.
GIẢNG:
Như thật vì nó không biến đổi. Như mũi kim cương hay phá được tất cả mà không gì phá được nó, bởi vì nó không biến đổi.
CHÁNH VĂN:
- Bạch Thế Tôn! Vì sao không biến đổi?
- Đại vương! Đó gọi là như như.
GIẢNG:
Nói như như tức là mãi mãi thế đó, cho nên không biến đổi.
CHÁNH VĂN:
- Bạch Thế Tôn! Vì sao như như?
- Đại vương! Đây do trí biết, chẳng thể dùng ngôn ngữ có thể nói được. Vì cớ sao? Vượt qua văn tự, không kia không đây, lìa tướng vô tướng, xa lìa nghĩ lường, vượt khỏi cảnh giác quán. Đó là liễu đạt pháp giới sâu xa. Phát tâm, rốt ráo cả hai không khác. Hai tâm như thế, tâm trước là khó, tự mình chưa được độ mà trước độ người khác. Thế nên ta lễ Bồ-tát sơ phát tâm.
GIẢNG:
Mấy đoạn này khéo một chút thì thấy dễ, không khéo một chút thì rất khó.
Đây do trí biết, chẳng thể dùng ngôn ngữ có thể nói được. Vì cớ sao? Vượt qua văn tự, không kia không đây, lìa tướng vô tướng, xa lìa nghĩ lường, vượt khỏi cảnh giác quán.
Ai có Trí chân thật thì nhận ra, biết được. Còn dùng ngôn ngữ văn tự đối đãi làm sao được như như. Do không tướng nên lìa văn tự, suy nghĩ, quán xét, gọi là như như.
Đó là liễu đạt pháp giới sâu xa.
Người được như vậy là liễu đạt pháp giới sâu xa.
Phát tâm, rốt ráo cả hai không khác.
Nghĩa là sao? Người sơ phát tâm nghe kinh Bát-nhã, thấu được lý Bát-nhã, phát tâm tu hành gọi đó là sơ phát tâm. Thấu được lý Bát-nhã rồi, đem chỉ dạy hướng dẫn người khác, nhưng chưa đạt được Phật quả. Cho nên ở đây nói:
Hai tâm như thế, tâm trước là khó.
Hai tâm là sơ phát tâm, và tâm rốt ráo cứu kính.
Sơ phát tâm mà thấu được lẽ thật, đang tập đang tu nhưng chưa hoàn tất. Khi đó đem giảng dạy cho người, mà vẫn không mất Tâm chân thật, Ngài nói người đó tự mình chưa được độ, mà trước độ người khác. Phật khen thế nên ta lễ Bồ-tát sơ phát tâm. Phật kính trọng những người sơ phát tâm, thấy được lẽ thật, tuy làm chưa xong nhưng đem cái thấy đó chỉ dạy cho người chưa biết, đó là người đáng kính lễ. Nếu đợi phần mình xong rồi mới chỉ dạy, chuyện đó dễ quá không khó khăn gì. Thấy được hiểu được mà chưa đến chỗ tột cùng, nhưng vì lòng thương chúng sanh, chỉ dạy để cùng nhau tu, đó là người sơ phát tâm mà hay độ tất cả. Đây mới là việc khó làm.
Đức Phật muốn khích lệ ai tu đã hiểu, đã thấy, thì phải cố gắng giáo hóa liền, vì chúng sanh đang chìm trong bể mê, không thương sao được. Cũng như mình chụp được một cái phao, còn nhiều phao nổi khác, ta không chịu chỉ bạn bè chung quanh, lo bơi vô bờ một mình, mặc cho huynh đệ chết chìm, như vậy là nhẫn tâm. Mình được cũng chỉ cho người khác, cùng nhau bơi vô bờ một lượt. Hoặc kẻ trước người sau cũng được, nhưng phải chỉ phao cho người ta. Đó là điều rất hay, đức Phật đã dạy cho chúng ta.
Người sơ phát tâm so với người đã phát tâm tu hành đến chỗ rốt ráo, giống nhau và khác nhau ở chỗ nào? Người sơ phát tâm nếu thấy rõ được Thể tánh Bát-nhã chân thật, đó là có Trí tuệ Phật. Người đã đạt cứu kính rồi cũng sống với Phật. Phật của người mới thấy và Phật của người đã được, có khác nhau không? - Không khác, nên nói là đồng. Nhưng người mới phát tâm, không còn nghi Phật của mình nữa, song vẫn bị mấy chú vô minh phiền não che hoài. Thấy thì thấy, vừa thấy vừa khuất, nên chưa trọn vẹn. Như vậy trên mặt căn bản thì cả hai đồng, nhưng trên mặt tu trì thì không đồng. Một bên đã xong, một bên chưa xong nên khác.
CHÁNH VĂN:
Bồ-tát Giải Thoát hỏi: Bạch Thế Tôn! Tâm vô sanh có gì lấy bỏ, trụ pháp tướng nào?
Phật dạy: Tâm vô sanh không lấy không bỏ. Trụ ở chỗ không có tâm, trụ ở chỗ không có pháp.
GIẢNG:
Tâm vô sanh không có lấy bỏ, nếu có lấy bỏ tức hữu sanh rồi. Tâm ấy trụ ở chỗ không có tâm. Không có tâm tức là vô sanh. Niệm dấy lên là có sanh, trụ mãi chỗ không niệm gọi là vô niệm. Trụ ở chỗ không có pháp, tức không có một pháp thật, cho nên nói trụ chỗ không pháp.
CHÁNH VĂN:
Bồ-tát Tâm Vương thưa: Bạch Tôn giả! Bát-nhã vô sanh, ở tất cả chỗ không trụ, ở tất cả chỗ không lợi. Tâm không chỗ trụ, không chỗ trụ tâm, không trụ vô tâm, tâm không sanh trụ, tâm tức vô sanh. Bạch Tôn giả! Tâm hạnh vô sanh không thể nghĩ lường.
GIẢNG:
Đây là Bồ-tát Tâm Vương giải thích thêm.
Bát-nhã vô sanh, ở tất cả chỗ không trụ, ở tất cả chỗ không lợi.
Vì Tự tánh Bát-nhã là vô sanh, ở tất cả chỗ không trụ nên ở mọi nơi mà không dính mắc gì hết. Không làm gì để thụ hưởng riêng cho mình, đó là ở tất cả chỗ mà không lợi.
Tâm không chỗ trụ, không chỗ trụ tâm, hai câu này là một hay là hai? Tâm không có chỗ trụ là đối với cảnh tâm không dính cảnh nào hết. Kế nữa, không có chỗ trụ tâm là đối bên trong ta không có chỗ kềm giữ, tâm thanh tịnh tự nhiên, không do kềm. Chúng ta ngồi thiền còn đè phải không? Đè là đè vọng chớ đâu phải đè Tâm thanh tịnh. Vì sợ vọng mạnh, nó lôi kéo nên ta kềm chế cho nó yên. Chừng vọng lặng rồi còn gì nữa mà đè, không còn gì đè đó là không có chỗ trụ tâm. Cho nên nói tâm không chỗ trụ, không chỗ trụ tâm.
Không trụ vô tâm, không chỗ trụ tâm mà cũng không trụ chỗ vô tâm nữa. Bởi vì còn có chỗ vô tâm để trụ tức là còn hai: vô tâm và cái trụ vô tâm. Cho nên tới chỗ đó không chỗ trụ tâm mà cũng không trụ vô tâm, tức không giữ cái vô tâm.
Tâm không sanh trụ, tâm tức vô sanh.
Không kềm chế không giữ tâm ở chỗ nào, đó là vô sanh.
Bạch Tôn giả! Tâm hạnh vô sanh không thể nghĩ lường.
Chỗ tâm hạnh vô sanh này không thể nghĩ lường. Nghe nói không thể nghĩ lường chúng ta nghĩ rằng chỗ đó mênh mông bát ngát nên không thể nghĩ lường. Nhưng không ngờ chỗ đó không cho phép mình nghĩ lường, vừa nghĩ bát ngát mênh mông là đã nghĩ lường rồi. Chỗ tâm hạnh vô sanh không thể nghĩ lường, vừa dấy niệm liền mất vô sanh.
CHÁNH VĂN:
Bồ-tát Tâm Vương lại bạch: Như hạnh vô sanh, tánh tướng lặng lẽ, không thấy không nghe, không được không mất, không lời không nói, không tri không tướng, không lấy không bỏ, làm sao có chấp ngôn thuyết? Nếu người có chứng, tức là tranh luận. Không tranh luận đó là hạnh vô sanh, ngàn suy muôn nghĩ cũng chẳng ích lợi, đạo lý ắt không sanh diệt. Như thật thì chẳng khởi các thức, một dòng lặng lẽ chẳng sanh, được pháp nhãn tịnh, đó gọi là Đại thừa.
GIẢNG:
Như hạnh vô sanh, tánh tướng lặng lẽ, không thấy không nghe, không được không mất, không lời không nói, không tri không tướng, không lấy không bỏ, làm sao có chấp ngôn thuyết?
Đến chỗ như hạnh vô sanh thì tánh tướng đều lặng lẽ, không có thấy nghe, được mất, đối đãi sanh diệt nữa. Bởi không đối đãi sanh diệt nên không lời không nói, không tri không tướng. Như vậy làm sao chấp có ngôn thuyết.
Nếu người có chứng, tức là tranh luận.
Sao vậy? Bởi vì có chứng có đắc là có được, có được là có cao thấp. Tôi được quả này cao, anh được quả đó thấp nên thành tranh luận. Cho nên không còn thấy chứng thấy đắc mới thật là chỗ vô sanh.
Không tranh luận đó là hạnh vô sanh, ngàn suy muôn nghĩ cũng chẳng ích lợi.
Chúng ta không còn tranh luận tức là hạnh vô sanh. Nếu bày ra trăm ngàn thứ suy nghĩ thế này thế nọ, càng không có lợi ích gì.
Đạo lý ắt không sanh diệt.
Chỗ đạo lý chân thật là không sanh diệt. Còn ngàn suy muôn nghĩ là cái sanh diệt.
Như thật thì chẳng khởi các thức, một dòng lặng lẽ chẳng sanh, được pháp nhãn tịnh, đó gọi là Đại thừa.
Chỗ chân thật đó không khởi các thức phân biệt, chỉ một tâm lặng lẽ chẳng sanh, được pháp nhãn thanh tịnh, gọi đó là Đại thừa. Đại thừa tức là Thiền.
Câu hỏi này trọng tâm là hỏi Thiền sư tu pháp gì, hành pháp gì? Tu Bát-nhã, hành Bát-nhã. Đúng như trong sử kể, Thiền sư Duy Tín ba mươi năm trước thấy núi sông là núi sông, sau gặp thiện hữu tri thức chỉ dạy thấy núi sông không phải là núi sông. Đó là tu Bát-nhã, hành Bát-nhã. Do tu Bát-nhã, hành Bát-nhã nên sau ba mươi năm thấy núi sông là núi sông. Chừng đó mới không còn phân biệt, không còn quán chiếu gì nữa, vì đã tới chỗ chân thật. Rõ ràng Bát-nhã là gốc cho chúng ta đạt được chỗ cứu kính chân thật.
CHÁNH VĂN:
(49) Thiền sư Viễn hỏi: Thiền sư miệng nói tông chỉ Đạt-ma. Chưa rõ thiền môn có truyền trao phó chúc, lấy gì để nói?
Đáp: Từ trước đến nay, có đủ sự truyền trao phó chúc.
GIẢNG:
Hỏi: Ngài theo tông chỉ của Tổ Đạt-ma, chưa rõ Thiền môn truyền trao phó chúc, lấy cái gì để nói, lấy cái gì để chứng minh?
CHÁNH VĂN:
Lại hỏi: Lại đến nay trải qua bao nhiêu đời?
Đáp: Đến nay trải qua sáu đời. Tôi xin vì ông nói các bậc Đại đức sáu đời là ai. Trình bày lý do trao truyền.
GIẢNG:
Phần này Ngài sẽ giải thích hai việc: một là chư Tổ trong sáu đời, hai là lý do truyền trao của sáu đời Tổ sư.
CHÁNH VĂN:
(50) Đời thứ nhất, thời Hậu Ngụy ở chùa Thiếu Lâm, núi Tung Sơn, có vị Tăng Bà-la-môn, tên Bồ-đề-đạt-ma, là con thứ ba Quốc vương Nam Thiên Trúc. Xuất gia lúc còn nhỏ, ngộ pháp Tối thượng thừa, ở nơi các chánh định chứng Như Lai thiền. Theo thuyền vượt biển, từ xa qua đến đất Hán, liền gặp Huệ Khả. Tổ Huệ Khả theo Đại sư Đạt-ma đến chùa Thiếu Lâm ở Tung Sơn, hầu hạ hai bên.
GIẢNG:
Trong phần nhắc lại sử của Tổ, vì là hỏi đáp nên có vài chỗ, chúng ta phải xét lại cho rõ ràng hơn.
Trong đây nói Tổ Đạt-ma là Tăng Bà-la-môn, chớ không phải Tăng Phật, chỗ này dễ hiểu lầm. Bởi vì cha Tổ Đạt-ma là Vua dòng Bà-la-môn, nên Ngài ngộ đạo theo Phật nhưng dòng họ vẫn là dòng Bà-la-môn, chớ không phải dòng họ Thích. Đừng nghe nói Tăng Bà-la-môn rồi ta tưởng Ngài truyền đạo Bà-la-môn.
CHÁNH VĂN:
Một đêm, Tổ Huệ Khả đến đứng trước Đại sư Đạt-ma, tuyết rơi đến thắt lưng, Tổ vẫn đứng yên không dời chỗ. Đại sư trông thấy bảo:
- Ông vì việc gì đến đứng trong tuyết?
Tổ Huệ Khả bạch với Đại sư:
- Hòa thượng từ phương Tây xa xôi đến đây, ý muốn nói pháp để tế độ người. Con không ngại tổn hại thân mạng, chí cầu pháp thù thắng, cúi xin Hòa thượng đại từ đại bi khai Phật tri kiến, cứu khổ chúng sanh, dẹp nạn cho chúng sanh, đó là sở nguyện vậy.
Đại sư Đạt-ma bảo:
- Ta thấy người cầu pháp không kém cỏi như thế.
GIẢNG:
Ngài nói:
Ta thấy người cầu pháp không kém cỏi như thế.
Ý Tổ muốn bảo những người cầu pháp thù thắng không thể kém cỏi như ngài Huệ Khả, dùng một hạnh nhỏ như vậy mà cầu được. Câu này trong sử ghi là: “Ông dùng hành động nhỏ nhoi như vậy mà cầu pháp làm sao được.”
CHÁNH VĂN:
Huệ Khả tự lấy dao chặt cánh tay trái của mình, đặt trước Đại sư Đạt-ma. Đại sư do thấy Tổ Huệ Khả vì cầu pháp thù thắng, bỏ mạng quên thân, dụ như trên núi Tuyết xả thân để cầu nửa bài kệ. Liền bảo:
- Ông trước có hiệu là Thần Quang, nhân đây ta đặt tên gọi là Huệ Khả.
GIẢNG:
Vì bị Tổ quở là dùng hạnh nhỏ cầu pháp, nên ngài Huệ Khả chặt tay dâng lên để tỏ lòng thiết tha vì đạo. Bấy giờ Tổ mới khen: Ông vì cầu pháp thù thắng mà bỏ mạng quên thân, như một vị ở trên núi Tuyết vì cầu nửa bài kệ mà xả thân. Do đó Tổ đổi tên ngài là Thần Quang thành Huệ Khả.
CHÁNH VĂN:
Đại sư bèn y theo kinh Kim Cang Bát-nhã nói Tri kiến Như Lai, trao truyền cho Tổ Huệ Khả. Huệ Khả qua lời chỉ dạy đã được pháp yếu. Sư liền truyền ca-sa để làm pháp tín, như Phật thọ ký cho Long vương nữ ở Ma Kiệt.
GIẢNG:
Câu chuyện ở đây cũng hơi lạ. Trong sử kể giai thoại đối đáp giữa hai thầy trò, là ngài Huệ Khả thưa: “Tâm con không an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm.” Khi đó Tổ bảo: “Đem tâm ra ta an cho.” Ngài tìm tâm một hồi không được, liền nói: “Con tìm tâm không được.” Tổ bảo: “Ta đã an tâm cho ngươi rồi.” Câu chuyện đối đáp rõ ràng như thế, nhưng ở đây có lẽ Ngài chỉ toát yếu thôi nên quá đơn giản.
Đại sư bèn y theo kinh Kim Cang Bát-nhã nói Tri kiến Như Lai, trao truyền cho Tổ Huệ Khả.
Chỗ này trong sử không nói y kinh Kim Cang Bát-nhã, tại sao Ngài lại nói? Bởi vì Tri kiến Như Lai mọi người sẵn có, tại sao không hiển lộ? Vì chúng ta mê chấp tâm thật, cảnh thật. Từ đó đuổi theo cảnh, dính mắc mãi mà phải trầm luân sanh tử.
Tổ bảo đem tâm ra ta an cho, để Ngài phản quan thấy tâm mình không thật. Bình thường nó dấy chạy, dính mắc đủ thứ, nhưng tìm lại mất tiêu. Phản quan là dùng Trí tuệ Bát-nhã soi trở lại mình. Tâm vọng đã mất thì cái gì dính với cảnh? Thường thường chúng ta chiếu kiến ở ngoài, thấy sáu căn không thật, sáu trần không thật. Căn trần còn có hình tướng, song gốc của nó từ nội tâm dấy niệm chạy theo cảnh. Nếu nội tâm không thật, nó lắng yên rồi thì còn chạy theo cảnh không? Không chạy theo cảnh, đó là Trí tuệ kim cang. Trí tuệ kim cang tức là Tri kiến Phật.
Vì vậy Ngài chỉ thẳng kinh Kim Cang Bát-nhã nói Tri kiến Như Lai, tức là lấy ý trong kinh Kim Cang để phá tất cả những niệm chấp. Niệm chấp hết tức là thấy được Tri kiến Phật, sống được Tri kiến Phật, ví dụ như Long nữ được Phật thọ ký v.v…
CHÁNH VĂN:
Đại sư bảo:
- Một quyển kinh Kim Cang, thẳng đó liễu ngộ thành Phật. Người sau các ông, nương theo quán môn Bát-nhã tu học. Chẳng theo một pháp, liền là Niết-bàn, thân tâm chẳng động, thành Vô thượng đạo.
GIẢNG:
Tổ Đạt-ma dạy:
Một quyển kinh Kim Cang, thẳng đó liễu ngộ thành Phật. Người sau các ông, nương theo quán môn Bát-nhã tu học.
Tức là dùng Trí tuệ Bát-nhã tu học.
Chẳng theo một pháp, liền là Niết-bàn, tức là không dính không kẹt pháp nào hết. Lúc tâm không có niệm thì không sanh diệt, mà không sanh diệt là Niết-bàn.
Thân tâm chẳng động, thành Vô thượng đạo.
Thân và tâm đều không vướng mắc, không bị kẹt gì hết, đó là thành đạo Vô thượng.
CHÁNH VĂN:
Đại sư Đạt-ma tiếp dẫn đạo tục, trải qua sáu năm. Lúc ấy có nạn khởi, sáu lần bị thuốc, năm lần ăn xong đều đào đất cho ra. Đại sư bảo Tổ Huệ Khả:
- Ta cùng đất Hán hết duyên, về sau ông cũng không khỏi nạn này. Đến sau đời thứ sáu, người truyền pháp mạng như chỉ treo. Các ông khéo ở đời.
 Đại sư nói xong liền thiên hóa, nhục thân táng ở Tung Sơn. Lúc ấy Tống Vân đem lễ vật đi sứ, đến núi Thông Lãnh gặp một vị Hồ tăng, một chân mang dép, một chân đi chân không, nói với Tống Vân:
- Thiên tử nhà Hán của ông, ngày nay vô thường.
Tống Vân nghe nói hết sức kinh ngạc, ghi nhớ kỹ ngày tháng gặp Sư. Tống Vân hỏi Đại sư Đạt-ma:
- Ngài hành hóa ở đất Hán, có người tin nhận không?
Đại sư Đạt-ma bảo:
- Sau hơn bốn mươi năm, có người ở đất Hán, sẽ hoằng pháp của ta.
Tống Vân về đến triều đình yết kiến nhà vua. Vua đã băng hà, ông đem ngày tháng đã gặp vị Hồ tăng nghiệm xét, đều không sai khác. Tống Vân đến nói với trăm quan triều đình. Lúc đó, ở trong triều đình cũng có vài mươi người là môn đồ Đại sư Đạt-ma, cùng nói:
- Đâu chẳng phải là Hòa thượng của chúng ta ư?
Họ bèn cùng nhau đào mộ mở quan tài, không thấy Pháp thân, chỉ thấy còn lại một chiếc dép trong quan tài. Cả nước mới biết là Thánh nhân. Chiếc dép kia, ngày nay thấy thờ ở chùa Thiếu Lâm. Lương Võ Đế làm văn bia thấy ở chùa Thiếu Lâm.
GIẢNG:
Đó là một việc. Nhưng ở đây còn một nghi vấn. Chúng ta đọc sử thấy Tổ Đạt-ma chỉ trao cho Tổ Huệ Khả bốn quyển kinh Lăng-già, chớ không nói kinh Kim Cang. Đến vị Tổ thứ năm là Tổ Hoằng Nhẫn thì dạy môn đồ tụng kinh Kim Cang. Do đó Tổ Huệ Năng gánh củi đi bán, nghe người ta tụng kinh Kim Cang mà Ngài ngộ. Như vậy Tổ thứ năm và Tổ thứ sáu mới liên hệ tới kinh Kim Cang. Còn ba vị Tổ trước không nghe nói, chỉ có đối đáp thôi.
Với cái nhìn của ngài Thần Hội, từ trước tới sau Thiền tông chung một hệ thống là truyền bá kinh Kim Cang. Đó là điều hơi lạ, nhưng có lý. Nếu chỉ riêng Tổ Huệ Năng ngộ kinh Kim Cang, còn những Tổ trước không ai truyền, thì ta có thể nghi. Nhưng rõ ràng Tổ thứ năm cũng lấy Kim Cang làm gốc, nên có thể Tổ thứ tư cũng vậy. Vì chư Tổ đều có một hệ thống. Qua đó chúng ta thấy kinh Kim Cang đối với Thiền tông rất là thiết yếu.
Ngài Đạt-ma khi truyền Thiền sang Trung Hoa, sáu lần bị thuốc độc. Năm lần Ngài đào đất ụa ra hết, tới lần thứ sáu biết hết duyên nên Ngài đi. Tại sao người đắc đạo truyền pháp mà lại còn bị thị phi lắm vậy? Bởi vì trước Ngài, tất cả những vị truyền pháp sang Trung Quốc đời vua Hán Minh Đế, đều truyền kinh như Tứ Thập Nhị Chương, Di Giáo… Người Trung Quốc quen học kinh để hiểu Phật rồi, bây giờ Ngài chỉ thẳng tâm bất kể kinh luận, dĩ nhiên người ta nghĩ là tà. Do vậy họ phải tiêu diệt vì sợ tà giáo truyền bá trong đạo Phật.
Nhưng tiêu diệt được không? - Không được. Tiêu diệt người này, người kia nổi lên, để thấy rằng pháp chân thật thì dù ai có ác ý hại, hại cũng không được.
CHÁNH VĂN:
(51) Đời thứ hai là Đại sư Huệ Khả ở Bắc Tề. Sau nương với Đại sư Đạt-ma. Sư tục tánh họ Chu, người Võ Hán. Lúc bốn mươi tuổi phụng thờ Đại sư Đạt-ma trải qua chín năm. Sư nghe nói kinh Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật, ngay đó chứng Như Lai thật không có pháp tức là Phật. Bồ-đề lìa tất cả pháp, ấy gọi là chư Phật.
Được thọ ký rồi. Gặp thời Châu Võ Đế diệt Phật pháp, Sư bèn ẩn ở Hiện Sơn Thư Châu. Sau khi Đại sư Đạt-ma tịch, trải qua hơn bốn mươi năm, Sư trùng khai pháp môn, tiếp dẫn quần sanh. Lúc đó, Thiền sư Xán phụng thờ, từ đầu đến cuối trải sáu năm. Sư y kinh Kim Cang nói Tri kiến Như Lai, Thiền sư Xán ngay lời nói liền ngộ, thọ trì đọc tụng kinh này, tức là Tri kiến Như Lai, thầm nhận mặc ngữ để làm pháp khế. Sư truyền y ca-sa để làm pháp tín, giống như ngài Văn-thù-sư-lợi thọ ký cho Thiện Tài. Đại sư Huệ Khả bảo Thiền sư Xán rằng:
- Ta trở về Nghiệp Đô trả nợ cũ!
Sư bèn từ Hiện Sơn đến Nghiệp Đô nói pháp, ở nơi chợ búa hoặc đường hẻm, không có chỗ nào nhất định, đạo tục qui ngưỡng, không thể nào tính kể.
GIẢNG:
Ngài là một vị Tăng, tại sao không giảng pháp trong chùa mà giảng ngoài đường chợ? Tại vì chùa lâu nay theo kinh giáo, luật, luận. Người ta cho đó mới chánh, còn nói thẳng tâm người là tà. Vì vậy không cho giảng trong chùa, nên Ngài phải giảng ở ngoài đường, hẻm chợ. Thế mà người theo lại càng đông.
CHÁNH VĂN:
Trải qua mười năm. Lúc ấy có tai nạn, sau khởi phiến loạn, lần lượt bị bài báng, đó là bọn yêu tà quấy rối hủy hoại Phật pháp. Khi ấy, Ngài qua Thành An, huyện lệnh là Trạch Trọng Khản, không biết lý do gì, ông lại đánh đập Tổ Huệ Khả đến chết, trải qua một đêm Ngài sống lại, lại bị thuốc độc mà tịch. Xem “Lăng-già Nghiệp Đô Cố Sự” quyển thứ mười có nói đủ.
GIẢNG:
Như vậy hai vị Tổ đều bị thuốc độc chết, riêng Tổ thứ hai còn bị đánh đập nữa. Đó là do ảnh hưởng của sự truyền bá, đặc biệt là kinh Kim Cang.
CHÁNH VĂN:
(52) Tổ đời thứ ba Đại sư Tăng Xán ở đời nhà Tùy. Về sau, Sư nương với Đại sư Huệ Khả. Không biết họ tên Sư, cũng không biết người xứ nào.
Khi được Tổ Huệ Khả thọ ký, vì tránh nạn nên Sư giả điên cuồng ở nơi chợ búa, trá bệnh ở chốn núi rừng, ẩn cư ở núi Tư Không Thư Châu. Lúc ấy, Thiền sư Tín mười ba tuổi, hầu hạ Sư trải qua chín năm. Sư y kinh Kim Cang nói Tri kiến Như Lai. Thiền sư Đạo Tín ngay lời dạy, liền chứng thật không có chúng sanh được diệt độ. Sư trao mật ngữ để làm pháp khế, lại truyền y ca-sa để làm pháp tín, như trăng sáng bảo châu xuất hiện ở biển lớn. Đại sư Xán cùng Thiền sư Bảo Nguyệt và Định Công đồng đi đến núi La Phù. Lúc đó, Thiền sư Tín cũng muốn đi theo Đại sư Xán. Đại sư bảo:
- Ông không cần đi, về sau gặp thời có thể hoằng truyền lợi ích!
Đại sư Xán đến núi La Phù, được ba năm liền trở về đến Hiện Sơn. Đi qua trụ xứ kia, Sư kêu to:
- Bọn các ngươi, bố thí cho ta một bữa ăn!
Hết thảy đạo tục đã qui y, đều đến bố thí, sắp đặt thức ăn. Khi Ngài ăn xong, ở trong trai tràng có một cây đại thọ. Lúc đó, Ngài đứng dưới gốc cây, chấp tay thị tịch. Nhục thân của Sư táng ở sau chùa Sơn Cốc, trong chùa có bia khắc hình tượng, nay thấy cúng dường.
GIẢNG:
Đến ngài Tăng Xán cũng truyền bá Phật pháp, lúc đầu có nạn nhưng về sau khỏi.
CHÁNH VĂN:
(53) Tổ đời thứ tư là Đại sư Đạo Tín, triều Đường. Sau nương Đại sư Tăng Xán. Sư tục tánh là Tư Mã, quê ở Hà Nội.
Khi được phó chúc rồi, Sư bèn đến Cát Châu, gặp cuồng tặc vây thành. Trải qua hơn một trăm ngày, nước suối, nước giếng đều khô cạn. Đại sư Tín từ bên ngoài vào thành, khuyến dụ đạo tục niệm Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật. Khi ấy, bọn cuồng khấu tan rã lui binh, suối giếng đầy tràn, thành kia hoàn toàn an ổn, Sư lại gặp duyên hóa độ người. Cát Châu được độ rồi, về sau Ngài đến trên đỉnh núi Lô Sơn, trông thấy trên núi Phá Đầu ở Hoàng Mai Kỳ Châu có vầng mây màu đỏ, bèn ở núi này, đổi tên núi là Song Phong.
Lúc ấy, Thiền sư Nhẫn mới bảy tuổi đã theo hầu hạ Sư, trải qua hơn ba mươi năm. Sư y kinh Kim Cang nói Tri kiến Như Lai. Thiền sư Nhẫn ngay lời dạy liền chứng pháp Tối thượng thừa, ngộ tánh tịch diệt, thầm nhận lời dạy để làm pháp khế. Sư liền truyền y ca-sa để làm pháp tín, như đồng tử trên núi Tuyết được châu như ý.
Đại sư Đạo Tín lại trùng khai pháp môn, tiếp dẫn quần sanh. Hàng long tượng bốn phương, đều kính mộ qui y, trải qua hơn ba mươi năm.
Đến niên hiệu Vĩnh Huy năm thứ hai, tháng tám, Sư chợt bảo đệ tử Nguyên Nhất kiến tạo ngôi tháp ở bên núi. Đến ngày mùng bốn tháng chín nhuần, Sư hỏi:
- Tháp làm xong chưa?
Đệ tử thưa:
- Đã xong rồi.
Sư bèn đi đến chỗ xây tháp, xem thấy đã thành tựu. Trở về đến phòng, Sư an nhiên thiên hóa.
Đại sư thọ bảy mươi hai tuổi. Ngày Sư tịch, đại địa chấn động, mặt trời mặt trăng không có ánh sáng, cây rừng khô héo.
Nhục thân Sư táng được nửa năm. Cửa tháp vô cớ tự mở, đến nay không đóng lại. Đỗ Chánh Luân khắc văn bia. Bia kia thấy ở trong núi.
GIẢNG:
Hà Nội ở đây không phải Hà Nội của Việt Nam. Trung Quốc có sông Hoàng Hà chạy dài từ biển tới Trường An. Phương Bắc của sông gọi là Hà Bắc, phương Nam gọi là Hà Nam, phương Tây gọi là Hà Tây, phương Đông gọi là Hà Đông, ở giữa là Hà Nội. Việt Nam cũng thế, có sông Hồng Hà, các phương Đông Tây Nam Bắc chung quanh sông cũng có tên Hà Tây, Hà Bắc… và chính giữa là Hà Nội. Chẳng những Việt Nam, Trung Quốc có Hà Nội mà ở Nhật cũng có Hà Nội nữa. Như vậy Hà Nội là khu trung tâm của con sông lớn.
Ở đây có nhiều điểm hơi khó giải quyết. Thứ nhất nói Tổ Đạt-ma về Tây với một chiếc giày quảy trên vai, như vậy có đáng tin không? Chúng ta nên hiểu rằng thời của các ngài nói gì phải mầu nhiệm người ta mới tin. Thời đó là thời giàu tín ngưỡng, nếu nói Ngài là một người thường chết chôn ở đâu đó, người ta sẽ xem thường. Cho nên mang chiếc dép về Tây là bất tử, nghe vậy thiên hạ mới ham tu.
Ở Việt Nam tới thời Thiền sư Thường Chiếu, Ngài hết tin rồi. Nên Ngài mới nói “một con chó lớn sủa láo, bầy chó nhỏ sủa theo”. Tùy hoàn cảnh mỗi thời, mà lịch sử các ngài mang những nét khác nhau, cốt đem đến niềm tin cho người đương thời. Chúng ta không thể y cứ vào đó một cách cố định được, vì đâu biết sự thật thế nào để xác định. Thời đại ngày nay, nói điều gì phải rõ ràng minh bạch, có chỗ y cứ đàng hoàng, phù hợp với khoa học, với đời sống văn minh đương thời. Đi ngược lại là không thể tồn tại, nên các hình ảnh mầu nhiệm huyền bí ít được nhắc đến như ngày xưa.
CHÁNH VĂN:
(54) Tổ đời thứ năm là Đại sư Nhẫn ở triều Đường. Sau nương Đại sư Tín. Sư họ Chu, quê ở huyện Hoàng Mai.
Sau khi được Đại sư Tín thọ ký, Ngài bèn đến núi Bằng Mộ ở phía đông núi Song Phong. Người đương thời gọi pháp môn Đông Sơn là do đó.
Lúc ấy, Thiền sư Huệ Năng hầu hạ qua tám tháng, Sư y kinh Kim Cang nói Tri kiến Như Lai. Thiền sư Năng ngay lời nói liền chứng ngộ, nếu tâm này có trụ ắt là chẳng trụ. Sư thầm trao mật ngữ để làm pháp khế, lại truyền y ca-sa để làm pháp tín, giống như Phật Thích-ca Mâu-ni thọ ký cho Phật Di-lặc.
Đại sư Hoằng Nhẫn khai pháp trải qua ba mươi năm, tiếp dẫn đạo tục, bốn phương qui ngưỡng, tụ hội như mây.
Đến niên hiệu Thượng Nguyên, Đại sư thọ bảy mươi bốn tuổi. Ngày mười một tháng hai năm ấy, Sư an nhiên ngồi tịch. Ngày đó, núi lở đất rung, mây mù che phủ mặt trời mặt trăng. Lư Khâu Quân khắc văn bia. Bia kia thấy ở Hoàng Mai.
GIẢNG:
Người ta gọi pháp môn Đông Sơn là do Ngài ở núi Bằng Mộ phía đông Song Phong, tức ngọn núi ở phía Đông. Thiền sư Huệ Năng hầu hạ qua tám tháng, nói hầu hạ chớ thật ra là giã gạo. Phần này sử viết kỹ hơn.
Sư thầm trao mật ngữ để làm pháp khế, lại truyền y ca-sa để làm pháp tín.
Thế nào là pháp khế? Thế nào là pháp tín? Thầm trao mật ngữ tức là thầm trao chỗ không nói nên lời. Tổ thứ năm chỉ cho Tổ thứ sáu Tri kiến Phật, thầy trò thầm nhận thầm chứng gọi là truyền tâm ấn, cũng gọi là pháp khế. Khế là thầy trò khế hợp nhau, giống hệt nhau. Thầy trò đã khế hợp, nhận được chỗ pháp yếu, thì đem y của Tổ trước truyền trao làm pháp tín cho người sau tin. Cho nên truyền y được gọi là pháp tín.
Đại sư Hoằng Nhẫn khai pháp trải qua ba mươi năm, tiếp dẫn đạo tục, bốn phương qui ngưỡng, tụ hội như mây.
Đây là nói sự truyền bá của Ngài rất thạnh hành.
CHÁNH VĂN:
(55) Tổ đời thứ sáu Thiền sư Huệ Năng, triều Đường. Sau nương Đại sư Nhẫn. Sư họ Lư. Các vị tiên tổ quê ở Phạm Dương, nhân cha làm quan ở Lãnh ngoại nên ở Tân Châu.
Năm hai mươi hai tuổi, Sư đến Đông Sơn lễ bái Đại sư Hoằng Nhẫn. Đại sư Nhẫn hỏi:
- Ông là người xứ nào, vì sao đến lễ bái ta, đến đây muốn cầu việc gì?
Thiền sư Năng thưa:
- Đệ tử từ Lãnh Nam Tân Sơn đến lễ bái Ngài, chỉ cầu làm Phật, không cầu việc gì khác.
Đại sư Nhẫn bảo:
- Ông là người Lãnh Nam mọi rợ, làm sao kham làm Phật?
Thiền sư Năng thưa:
- Phật tánh kẻ mọi rợ cùng Phật tánh Hòa thượng có gì khác nhau?
Đại sư Nhẫn nghe lời này rất lấy làm lạ, lại muốn cùng nói chuyện nhưng vì có bọn người ở hai bên nên đuổi Sư ra, bảo theo chúng làm công tác.
GIẢNG:
Tổ Hoằng Nhẫn sợ cùng nói chuyện riêng với Ngài, Thị giả sẽ mách trong chúng có một cư sĩ được Hòa thượng đặc biệt ưu đãi thì nguy cho Ngài. Cho nên đuổi xuống nhà bếp làm công tác để mọi người không chú ý.
CHÁNH VĂN:
Sư vì chúng giã gạo trải qua tám tháng. Đại sư Nhẫn tìm kiếm ở trong chúng, đến chỗ giã gạo trông thấy Sư. Đại sư cùng trò chuyện, được biết Sư thật đã kiến tánh. Đến nửa đêm, Đại sư Nhẫn lén gọi Sư đến trong phòng, ba ngày ba đêm cùng nói chuyện, biết rõ Sư chứng Tri kiến Như Lai, không còn nghi ngờ.
GIẢNG:
Chuyện ở ba ngày ba đêm thì tôi không tin được. Tại sao? Vì ngày nào Thị giả cũng đem cơm vô, nếu Ngài ở đó nói chuyện ba ngày ba đêm, mọi người biết được thì làm sao yên thân. Chỉ trong một đêm mà còn không kịp. Nhưng đây là lối thuật lại, nhớ đâu nói đó nên lệch lạc chút ít, là điều không có gì lạ.
CHÁNH VĂN:
Đại sư đã phó chúc xong liền bảo rằng:
- Ngươi có duyên ở Lãnh Nam, hãy nên đi mau, mọi người biết rõ chuyện, ắt sẽ hại ngươi.
GIẢNG:
Chỗ này chúng ta nghe rất dễ hoang mang. Tại sao trong chùa, toàn là những người dưới trướng của Tổ, mà lại còn sợ bị hại? Thật ra không có gì lạ hết, tại vì ngài Huệ Năng còn tóc. Dưới trướng Tổ có năm trăm Tăng, trong đó Giáo thọ Thần Tú đang giảng dạy cho Tăng chúng. Nếu Tổ không truyền pháp cho người nào lại truyền cho một người cư sĩ mới vào chùa là chuyện phi thường. Truyền như vậy thì năm trăm vị Tăng kia người ta coi ra gì. Nếu Ngài là một vị Tăng trong năm trăm Tăng đó thì không có gì đáng sợ. Hoặc truyền cho ngài Thần Tú thì càng tốt, không ai phàn nàn. Chỉ vì Ngài là một cư sĩ giã gạo sau nhà bếp, không học hành gì, không biết một chữ, mà lại nối pháp Đông Sơn thì làm sao chấp nhận được. Trao y bát là trao cả sự tín nhiệm, cả một sự truyền thừa rất quan trọng. Do đó không ai có thể chấp nhận một gã nhà quê còn tóc lên nối ngôi Tổ vị. Nếu không nắm vững hoàn cảnh như vậy, chúng ta sẽ hoang mang tại sao trong chùa mà còn đố kỵ nhau đến thế.
Cũng như tôi ở đây kêu một chú cư sĩ mới đến Thiền viện hồi sáng, giao cái chùa này thì mấy chú có nổi rầm rầm lên không? Tự nhiên không thể nào chịu nổi. Đó là một lẽ thật. Nếu tôi giao cho vị thầy nào lớn, chuyện đó bình thường, không ai thắc mắc hết. Nên đọc sử chúng ta phải thông cảm hoàn cảnh của người đương thời và những sự việc quan trọng thế nào. Nếu không sẽ trách, sao người xưa cũng còn bỉ thử quá.
CHÁNH VĂN:
Thiền sư Năng thưa:
- Bạch Hòa thượng, con làm sao đi được?
Đại sư Nhẫn bảo:
- Ta sẽ đích thân tiễn ngươi.
Đêm ấy, Đại sư đưa Sư đến đò Cửu Giang, liền lên thuyền sang sông. Đại sư thấy Huệ Năng đã qua sông rồi, trong đêm đó Ngài quay về đến bản sơn, mọi người đều không hay biết. Ba ngày sau khi Sư đi, Đại sư Nhẫn bảo:
- Đồ chúng nên giải tán, ở trong núi này không có Phật pháp. Phật pháp lưu truyền qua Lãnh Nam rồi!
Mọi người nghe Đại sư nói thế, thảy đều kinh ngạc không thôi, bốn mắt nhìn nhau mất sắc, lại bảo nhau:
- Lãnh Nam có ai?
Lần lượt hỏi nhau. Trong chúng có Pháp Như ở Lộ Châu nói:
- Lúc nhỏ Huệ Năng ở chỗ này.
Mọi người chạy đuổi theo tìm. Trong chúng có một vị trước làm Tứ phẩm tướng quân, từ quan vào đạo. Ông họ Trần tự là Huệ Minh. Từ lâu ở dưới hội Đại sư không thể khế ngộ. Khi nghe Đại sư nói như thế, liền ngày đêm gấp rút chạy tìm. Đến trên đỉnh Đại Dữu Lãnh gặp nhau. Thiền sư Năng rất lo sợ, e ngại thân mạng không thể bảo tồn, nên đem y ca-sa đưa cho Huệ Minh, Thiền sư Huệ Minh thưa:
- Tôi xưa nay không vì y ca-sa đến. Ngày Đại sư ra đi, đã được lời dạy gì. Xin vì tôi giải nói?
GIẢNG:
Thật tâm lúc đầu Huệ Minh đuổi theo là để giành y lại. Vì sợ y rơi vào tay một kẻ quê dốt thì Phật pháp Đông Sơn bị thất truyền. Trong sử nói Huệ Minh đuổi theo thấy y mừng quá, nhưng ôm lên không nổi, mới đổi ý cầu Phật pháp.
CHÁNH VĂN:
Thiền sư Năng nói rõ về tâm pháp. Thiền sư Minh nghe nói tâm pháp rồi, chấp tay đảnh lễ, liền mời Sư cấp tốc qua núi khác, sợ phía sau có đám người đuổi theo đến nơi.
Thiền sư Năng qua núi, đến Tào Khê Thiều Châu, ở đó bốn mươi năm. Sư y kinh Kim Cang trùng khai Tri kiến Như Lai. Đạo tục bốn phương thấm nhuần ân đức, giống như mặt trăng ở trên hư không, chiếu soi tất cả sắc tượng. Cũng như đêm rằm Trung thu, tất cả chúng sanh thảy đều trông thấy.
Đến niên hiệu Cảnh Vân năm thứ hai, Ngài chợt bảo đệ tử Trí Bổn Huyền Giai, về nhà cũ ở Long Sơn Tân Châu lập một ngôi tháp. Đến niên hiệu Tiên Thiên năm đầu, tháng chín, Sư từ Tào Khê về đến Tân Châu.
Đến niên hiệu Tiên Thiên năm thứ hai, ngày mùng ba tháng tám, Ngài chợt bảo môn đồ rằng:
- Ta sẽ đi thật xa!
Đệ tử là tăng Pháp Hải hỏi Hòa thượng rằng:
- Về sau có người kế thừa chăng? Vì sao có y này mà không truyền?
Hòa thượng bảo:
- Nay ông chớ có hỏi, về sau nạn khởi rất nhiều. Ta do chiếc y ca-sa này mà sắp mất thân mạng. Ông muốn biết thời, sau khi ta diệt độ, hơn bốn mươi năm, người dựng lập tông là phải.
Đêm ấy, Sư an nhiên ngồi tịch, thọ bảy mươi sáu tuổi. Ngày đó, núi lở đất rung, mặt trời mặt trăng không có ánh sáng, gió mây mất sắc, rừng cây biến thành màu trắng. Riêng có mùi hương lạ lâng lâng chan hòa, trải qua vài ngày mới hết. Mạch khe Tào Khê bị đứt dòng, ao suối khô cạn, trải qua hơn ba ngày.
Năm đó, ở chùa Quốc Ân Tân Châu, nghênh đón Thần tọa của Hòa thượng. Tháng mười một an táng ở Tào Khê. Ngày ấy, trăm chim kêu bi ai, côn trùng cầm thú gào la thảm thiết; ở trước mộ tháp của Ngài có hào quang trắng xuất hiện bay thẳng lên giữa trời, ba ngày mới thật tan.
Trong điện Thừa Vi Cừ có làm văn bia. Đến niên hiệu Khai Nguyên năm thứ bảy, bị người cạo sửa, khắc in lại bản khác, bỏ bớt sự nghiệp truyền trao và lý do truyền y của sáu đời Tổ sư. Ngoài bản đương thời ghi chép lại, tấm bia kia ngày nay thấy ở Tào Khê. Môn đồ hỏi:
- Chẳng rõ pháp có ở trên y, cho nên lấy y để truyền pháp chăng?
Đại sư bảo:
- Tuy pháp không có trên y, nhưng do tiêu biểu đời đời trao nhau nên truyền y để làm tin. Nay người học Phật pháp phải nên vâng giữ, kẻ học đạo được biết tông chỉ, không bị sai lầm. Huống chi y Kim lan của đức Thích-ca Như Lai, hiện ở núi Kê Túc. Nay thấy Tổ Ca-diếp vẫn đắp chiếc ca-sa đó, chờ đợi ngài Di-lặc ra đời, phân phó y này. Đó là tiêu biểu đức Thích-ca Như Lai truyền y để làm tin. Sáu đời Tổ sư của ta, cũng lại như thế. Nay ta hay rõ được tánh Như Lai, Như Lai ngày nay ở trong thân ta. Ta cùng với Như Lai không khác biệt. Như Lai tức là Chân như của ta.
GIẢNG:
Chúng ta thấy tới Lục Tổ dừng sự truyền y là hợp lý. Tại sao? Bởi vì thuở Tổ Đạt-ma sang Trung Hoa, Ngài truyền y cho Tổ Huệ Khả, chỉ một thầy một trò. Lúc đó chưa có hội chúng nên thầy truyền cho trò để người ta tin đây là người đắc pháp thật. Đến Tổ Huệ Năng, chúng trên năm trăm nên việc truyền y là nguy hiểm, vì sự tranh giành nhau.
Sau đó ở Trung Hoa đạo tràng học thiền cả ngàn người, số đắc pháp cũng rất đông. Nếu chỉ truyền một vị thì đâu đủ người truyền bá khắp nơi, hơn nữa việc này sẽ gây chia rẽ trong Tăng đoàn, nên ngang đó dừng sự truyền y là hợp lý.
CHÁNH VĂN:
Tụng  Đại  Thừa  Đốn  Giáo
Thuật rằng: Nhập pháp giới là liễu tâm, đạt bản nguyên là kiến tánh, tánh tịnh thì Pháp thân tự hiện, tâm như thì Đạo thể hiện còn. Trời đất không thể đổi cái thường kia, u minh không thể làm khác lý kia. Chợt có Lang chúa vô minh, Ma vương tham ái, mượn hư không để thành nhân, góp trần lao mà thành nghiệp.
GIẢNG:  
Người sau nhân đọc những lời dạy của ngài Thần Hội, lãnh hội được nên làm bài văn này, cũng rất hay.
Nhập pháp giới là liễu tâm, tức nhập pháp giới tánh là liễu ngộ được Bản tâm. Đạt bản nguyên là kiến tánh, nói kiến tánh tức là thấu tột nguồn gốc ban đầu. Như vậy liễu tâm là nhập pháp giới, kiến tánh là đạt bản nguyên.
Tánh tịnh thì Pháp thân tự hiện, tâm như thì Đạo thể hiện còn.
Tánh mình trong sạch thanh tịnh thì Pháp thân hiện ra. Tâm mình lặng lẽ như như thì Đạo thể hiện còn, tức Thể đạo đang hiện có.
Trời đất không thể đổi cái thường kia, u minh không thể làm khác lý kia.
Chỗ chân thật đó trời đất không thể đổi được, mù tối không thể che được.
Chợt có Lang chúa vô minh, Ma vương tham ái, mượn hư không để thành nhân, góp trần lao mà thành nghiệp.
Ở đây gọi vô minh là Lang chúa, còn tham ái là Ma vương. Lang chúa là chúa của chó sói hay vua chó sói. Do tham ái mượn hư không để thành nhân. Rồi từ Tánh không hợp các duyên thành người, góp trần lao thành nghiệp, đuổi theo dính mắc sáu trần bên ngoài mà tạo thành nghiệp.
Như vậy Thể tánh nguyên là trong sạch, như như. Nhưng bị Lang chúa vô minh và Ma vương tham ái thúc giục, từ thể không gom góp các duyên trần mà thành thân, từ đó dính với sáu trần và tạo nghiệp. Đó là Ngài nói từ Thể thanh tịnh biến thành sanh diệt, gốc từ vô minh, tham ái mà ra.
CHÁNH VĂN:
Vì thế bậc Năng nhân lợi vật, diệu lực vô biên, diễn giáo nghĩa tám muôn bốn ngàn, chỉ bày pháp yếu ba mươi bảy phẩm trợ đạo, nên đã làm Đạo sư chỉ rõ mê ngộ, đốn tiệm. Ngộ thì phiền não tức là Bồ-đề, mê nên cổng Bắc chạy qua thành Nam. Tiệm đó ắt tích chứa kiếp số tăng-kỳ, vẫn ở trong luân hồi. Đốn thì như khoảng co tay cúi mình, liền lên Diệu giác.
GIẢNG:
Bậc Năng nhân là chỉ cho Phật. Phật vì lợi vật cho nên dùng diệu lực vô biên diễn ra giáo nghĩa tới tám muôn bốn ngàn pháp, chỉ bày pháp yếu Ba mươi bảy phẩm trợ đạo. Vì vậy nên Ngài là đấng Đạo sư chỉ rõ mê ngộ, đốn tiệm cho mọi người.
Ngộ thì phiền não tức là Bồ-đề, mê nên cổng Bắc chạy qua thành Nam.
Ngay phiền não liền có Bồ-đề. Phiền não là mê, Bồ-đề là giác. Tại sao phiền não mà thành Bồ-đề? Thật ra điều này rõ như ban ngày, không có tối thì không lập sáng. Cũng vậy vì mê nên mới có ngộ. Ví như chúng ta muốn tìm nhà người quen, trên đường đi bị lạc. Lúc lạc là quên, tức mê. Khi sực nhớ không phải, trở lại đi lối đúng thì không còn lạc nữa. Không lạc là hết mê, hết mê tức ngộ.
Như vậy nhân đâu có ngộ? Nhân mê mà có ngộ, nhân quên mà có nhớ. Nhớ từ quên mà ra, còn quên là do mất nhớ, chớ có gì lạ đâu. Nếu không có quên thì không có nhớ, cũng như không có mê thì không có ngộ. Vì vậy mà phiền não tức là Bồ-đề, từ mê nên chúng ta mới giác.
Nếu mê thì cổng Bắc chạy qua thành Nam, là đi chỗ này nhằm đến chỗ kia, nên phải tìm kiếm lăng xăng. Một khi ngộ ngay đó thấy liền, chớ không ở đâu xa. Như quí Phật tử có người đi hành hương hết núi này đến núi nọ. Ở đâu nghe nói linh thiêng là tìm tới, đi như vậy thì chừng nào ngộ đạo, hay càng đi càng mê? Càng đi càng thêm mê. Chỉ khi nào nhận được nơi mình có Tánh giác, có ông Phật thật thì ngồi một chỗ vẫn thấy rõ như thường. Cho nên người đốn thì ngộ phiền não tức là Bồ-đề, chớ không gì khác. Còn người tiệm hay người mê chạy Đông chạy Tây tìm kiếm hoài cũng không ra.
Tiệm đó ắt tích chứa kiếp số tăng-kỳ, vẫn ở trong luân hồi.
Nên nói tu ba vô số kiếp mới thành Phật. Đó là nói theo tinh thần Nguyên thủy hay A-hàm. Phật dạy nếu người nào bị bệnh ái dục nặng thì phải quán bất tịnh. Quán thân này bất tịnh cho tới khi nào mình nhờm gớm, không muốn nhìn nó nữa thì quán tịnh trở lại. Như vậy chừng bao lâu mới rồi pháp đó? Quán bất tịnh như thế chỉ trừ được một bệnh thôi. Qua bất tịnh rồi lại trị bệnh khác, như tham ái, tham danh, tham lợi… Cứ như vậy mà quán hết cái này sang cái khác, cả đời cũng chưa xong. Một đời không xong thì phải qua đời khác. Cứ như vậy qua bao nhiêu lần sanh tử vẫn chưa rồi, vì vậy nói:
Tiệm đó ắt tích chứa kiếp số tăng-kỳ, vẫn ở trong luân hồi.
 Đốn thì như khoảng co tay cúi mình, liền lên Diệu giác.
Tay ta đưa ra co vô chừng bao lâu? Chỉ trong tíc tắc đồng hồ. Đó đốn là vậy. Ngay nơi thân này, ngay nơi tâm này mà mình thấy không thật, nó là giả dối, cái thấy đó chừng bao lâu? Đang thấy thật đổi lại thấy giả dối, liền đó chớ có bao lâu. Thấy theo thế gian thì mê kiếp này sang kiếp khác, còn thấy ngược lại là hết mê. Như vậy cái chân thật không xa, mà vì chúng ta không dám quay đầu.
CHÁNH VĂN:
Do đó, quả thật cao xa, ai hoằng truyền pháp kia? Hòa thượng Hà Trạch của ta, là bậc trí tuệ thiên sanh, đức cùng đạo hợp, chí nguyện lớn cùng năm tháng. Lúc tuổi còn nhỏ, du phương hỏi đạo, ở chỗ Đại đức các nơi, hỏi nghĩa Niết-bàn vốn lặng lẽ, đã lâu mà không ai đáp được, lòng rất lấy làm lạ. Khi đến Lãnh Nam, lại gặp Tôn giả Tào Khê, làm lễ chưa xong, đã ngộ lời Sư dạy, vô trụ là gốc, do lòng từ mà được. Tôn giả đã làm việc gởi vàng chỉ một ít, ban châu thật chấn động, trao tâm cho người khế hợp, truyền đèn pháp của Lục Tổ. Do tâm từ bi rộng lớn, hấp dẫn tình thâm, năm xưa chín tuổi, đã phát hoằng thệ nguyện, nếu ta ngộ hiểu, thệ nguyện sẽ nói ra, đời nay truyền trao cho đời sau. Tâm trước đã toại nguyện, chỉ rõ hạt châu cho người say, chóng mở kho tàng cho bần nữ. Dùng trí tuệ chặt đứt lưới nghi cho người. Đem thuyền trí cứu vớt kẻ chìm nơi bến mê. Gốc lớn nguồn sâu, hàm linh ngộ nhập. Rõ bốn hạnh để chỉ bày, hoằng năm nhẫn để lợi lạc, không phải bỗng dưng mà được gọi là Tổ như thế. Song tâm ắt có sanh diệt, pháp không có đến đi. Vô niệm thì cảnh ác chẳng sanh, vô tác thì phan duyên tự dứt. Hoặc thỉ giác để diệt vọng, hoặc bản giác để chứng chân. Sự giải thoát kia ngay trong nháy mắt, lìa sự tuần hoàn nơi ba cõi.
GIẢNG:
Đoạn này tán thán ngài Thần Hội. Nói rằng:
Do đó, quả thật cao xa, ai hoằng truyền pháp kia? Hòa thượng Hà Trạch của ta.
Ngài đi tu lúc tuổi còn nhỏ, du phương tầm đạo, hỏi nghĩa Niết-bàn vốn lặng lẽ, đã lâu không ai đáp được, lòng rất lấy làm lạ.
Bấy giờ Ngài tới Lãnh Nam gặp Tổ Huệ Năng.
Tôn giả đã làm việc gởi vàng chỉ một ít, ban châu thật chấn động, trao tâm cho người khế hợp, truyền đèn pháp của Lục Tổ.
Nghĩa là Ngài thưa hỏi nghĩa vô sanh của Niết-bàn, đó là gởi vàng chỉ một ít. Gởi vàng một chút ít mà Tổ ban châu thật chấn động. Ngài trao tâm cho người khế hợp và được Lục Tổ truyền pháp. Như vậy Ngài được ngộ nơi Lục Tổ, cho nên đây mới kể sự tích.
Do tâm từ bi rộng lớn, hấp dẫn tình thâm, năm xưa chín tuổi, đã phát hoằng thệ nguyện, nếu ta ngộ hiểu, thệ nguyện sẽ nói ra, đời nay truyền trao cho đời sau.
Ở đây ca ngợi lòng từ bi của Ngài, đi tu lúc chín tuổi ở Tung Sơn, tới chỗ Tổ Huệ Năng là mười hai, mười ba tuổi. Sau khi phát nguyện lớn được ngộ, được hiểu sẽ đem Phật pháp nói lại cho người sau. Thế nên sau khi ngộ rồi, Ngài trở về kinh đô ở phương Bắc, giáo hóa những người trí thức, nên Phật sự khá nhọc nhằn.
Tâm trước đã toại nguyện, chỉ rõ hạt châu cho người say, chóng mở kho tàng cho bần nữ.
Chỉ rõ hạt châu cho người say như trong kinh Pháp Hoa đã ví dụ. Mở kho tàng cho bần nữ, là chỉ kho báu cho cô bé nghèo.
Dùng trí tuệ chặt đứt lưới nghi cho người.
Khi đi truyền bá, khả năng trí tuệ của Ngài làm cho người ta thức tỉnh rất lớn.
Đem thuyền trí cứu vớt kẻ chìm nơi bến mê.
Đem trí tuệ đó cứu giúp những người còn mê lầm.
Gốc lớn nguồn sâu, hàm linh ngộ nhập.
Nguồn gốc Ngài dạy rất sâu rất lớn, vì muốn cho tất cả chúng sanh đều ngộ nhập chỗ đó.
Rõ bốn hạnh để chỉ bày, hoằng năm nhẫn để lợi lạc, bốn hạnh năm nhẫn đều đem chỉ dạy cho người.
Không phải bỗng dưng mà được gọi là Tổ như thế.
Ngài được như vậy đâu phải bỗng dưng, mà do công phu tu từ thuở bé.
Song tâm ắt có sanh diệt, pháp không có đến đi.
Tâm có sanh diệt, nhưng pháp chân thật không đến đi.
Vô niệm thì cảnh ác chẳng sanh, vô tác thì phan duyên tự dứt.
Ngài chủ trương vô niệm của Lục Tổ và chủ trương vô tác, tức là không dính mắc với các cảnh bên ngoài.
Hoặc thỉ giác để diệt vọng, hoặc bản giác để chứng chân.
Hoặc dùng thỉ giác là cái giác mới để diệt vọng. Như khi dấy niệm lên mình biết nó là vọng, đây là thỉ giác. Thỉ giác để diệt vọng. Diệt vọng rồi phải dùng bản giác để chứng chân, vọng lặng thì chân hiện, đó là bản giác.
Ngày xưa mê lầm ta cho vọng tưởng là tâm mình. Bây giờ biết vọng tưởng là hư dối, đây là thỉ giác. Vọng tưởng hư dối lặng rồi, cái hằng tri giác hiện ra, đó là bản giác, tức cái giác sẵn có tự thuở nào. Nên nói sự giải thoát kia ngay trong nháy mắt, lìa sự tuần hoàn nơi ba cõi. Như vậy rõ ràng ngay nơi mình có cái giải thoát, dù còn luân hồi trong tam giới vẫn không thấy luân hồi, vì ta chưa mất bản giác bao giờ.
CHÁNH VĂN:
Tuy ông Trưởng giả dâng bảo cái, Long nữ cúng hạt châu. Sự giải thoát này sánh với việc dâng cúng kia, lại nhanh chóng hơn. Đó là ý niệm chẳng động mà vượt qua bờ kia, không bỏ sanh tử chứng Niết-bàn, phăng tìm đến lý tột cùng của sự đốn ngộ, có gì là xa? Sự nhiệm mầu của cửa Phật, hàm súc ở chỗ này! Do đó, xét kỹ lầu các điểm trang, bên trong tường vách rục rã, được không chỗ được, nghe điều chưa nghe, nghi Tổ Đạt-ma tái sanh, giống như hoa ưu-đàm một lần xuất hiện, tiếng tăm bay khắp xa gần, rộng thông niềm vui pháp mầu, bậc Y vương rất quí, tự nhiên mà đến.
GIẢNG:
Tuy ông Trưởng giả dâng bảo cái, Long nữ cúng hạt châu. Sự giải thoát này sánh với việc dâng cúng kia, lại nhanh chóng hơn.
Long nữ cúng hạt châu cho Phật rồi, mới qua cõi khác hóa thân nam thành Phật, chuyện mình ngộ còn mau hơn thế nữa.
Đó là ý niệm chẳng động mà vượt qua bờ kia, không bỏ sanh tử chứng Niết-bàn, phăng tìm đến lý tột cùng của sự đốn ngộ, có gì là xa?
Đốn ngộ thật không có gì xa hết. Ý niệm chẳng động mà vượt qua bờ kia, khi ý không khởi, không dấy đó là bờ Niết-bàn. Bờ Niết-bàn ở ngay trong sanh tử, chớ không phải tìm nơi đâu hết. Vì vậy phăng tìm được chỗ tột cùng là đốn ngộ. Cho nên nói:
Sự nhiệm mầu của cửa Phật, hàm súc ở chỗ này! Do đó, xét kỹ lầu các điểm trang, bên trong tường vách rục rã, được không chỗ được, nghe điều chưa nghe, nghi Tổ Đạt-ma tái sanh, giống như hoa ưu-đàm một lần xuất hiện, tiếng tăm bay khắp xa gần, rộng thông niềm vui pháp mầu, bậc Y vương rất quí, tự nhiên mà đến.
Đây là lời tán thán của người viết bài văn này.
Nói rằng: “Do đó xét kỹ lầu các điểm trang, bên trong tường vách rục rã, được không chỗ được, nghe điều chưa nghe.” Lầu các điểm trang, bên trong tường vách rục rã là gì? - Tức ngay trong tướng giả ta mê lầm trang điểm đủ thứ, nhưng sự thật bên trong đã rục rã hết rồi. Được không chỗ được, cái chân thật đó không chỗ được. Nghe điều chưa nghe, người viết nghi biết đâu Tổ Đạt-ma tái sanh làm Thần Hội, cho nên nói được cái đó, chỉ được cái đó. Bởi vậy “giống như hoa ưu-đàm một lần xuất hiện, tiếng tăm bay khắp xa gần, rộng thông niềm vui pháp mầu, bậc Y vương rất quí, tự nhiên mà đến”.
CHÁNH VĂN:
Đệ tử học đạo tối tăm, may mắn được nương theo áo nghĩa. Xưa đi đường xa bước từng gang tấc mà ngàn dặm. Nay nhờ trực chỉ, xem dặm hoang chỉ nơi tròng mắt. Bút mực không đủ tả nỗi lòng, thân mạng làm sao kham đền ân đức. Viết bài tụng ngắn bày tỏ phát minh, cũng giống như vun đắp cho Bồng Lai thêm cao, khe nước chảy từ từ càng làm cho Bột Hải thêm sâu. Chúng ta người học đạo nhờ đây mà rõ vậy.
GIẢNG:
Đoạn này người ghi tỏ lòng cung kính quí trọng với Thiền sư Thần Hội.
Xưa đi đường xa bước từng gang tấc mà ngàn dặm, người ghi tả tâm trạng ngày xưa học đạo như đi đường xa, bước từng bước chậm ngắn mà đường dài, không biết chừng nào mới tới được. Nay nhờ trực chỉ, xem dặm hoang chỉ nơi tròng mắt, nay nhờ chỉ thẳng cho nên tuy đường xa mù mịt, nhưng thật ra ở ngay nơi tròng con mắt, chớ không đâu xa hết.
Bút mực không đủ tả nỗi lòng, thân mạng làm sao kham đền ân đức, bút mực không đủ diễn tả hết lòng kính trọng, còn thân mạng này cũng không làm gì đền được ân đức của người xưa.
Viết bài tụng ngắn bày tỏ phát minh, cũng giống như vun đắp cho Bồng Lai thêm cao, khe nước chảy từ từ càng làm cho Bột Hải thêm sâu.
Người viết bài tụng để tỏ sự thấy biết của mình rõ ràng, giống như núi Bồng Lai đắp thêm cao, như khe nước chảy làm cho biển cả thêm sâu.
Chúng ta người học đạo nhờ đây mà rõ vậy.
CHÁNH VĂN:
Đạo tinh thăm thẳm,
Pháp tánh thanh tịnh;
Biết rõ hư dối,
Vững tu giới định.

GIẢNG:
Ở đây nói đạo của ngài Thần Hội chỉ dạy sâu thăm thẳm, là tinh ba rất quí báu. Pháp tánh của chúng ta hay của các pháp luôn luôn thanh tịnh. Biết rõ tất cả các pháp ở thế gian này hư dối, thì vững tu giới định tuệ, dễ dàng không khó.
Hiện tại sở dĩ chúng ta tu trồi lên hụp xuống vì thấy các pháp là thật. Sắc đẹp thật, tiếng hay thật, tất cả những thứ khác đều thật hết. Bởi thấy tất cả thật nên giữ giới không yên, định cũng không được. Giữ giới thì phạm, còn định thì loạn. Vì thấy cảnh đời là thật.
Ví dụ ta chưa có tội lỗi gì mà bị người nói gian giảo, ác độc thì đêm đó ngồi thiền yên định không? Bởi cho lời nói là thật nên tâm không yên định. Biết ngôn ngữ không thật người ta nói, mình bỏ qua không bận lòng, được vậy thì tu giới định dễ dàng.
CHÁNH VĂN:
Giữ giới là gì?
Biết được Bản tánh.
Tu định là gì?
Vô niệm tự tịnh.

GIẢNG:
Theo vị này, giữ giới tức là biết được Bản tánh của mình sẵn tự đầy đủ. Tại sao? Vì nếu không biết Bản tánh mà chỉ thấy thân này, vọng tưởng này nên dễ phạm sai lầm, giữ giới không được. Biết có Bản tánh bất sanh bất diệt, thường hằng rõ ràng thì những tầm thường của thế gian ta không bận tâm, nên không dính mắc. Đó là giữ giới.
Tu định là gì? Vô niệm tự tịnh. Tu thiền định là khéo giữ tâm vô niệm, mà vô niệm tự an tịnh. Đó là tu định.
CHÁNH VĂN:
Siêng tu trí tuệ,
Mới trừ bệnh pháp;
Gương trống không nhọc,
Bụi mù chẳng chiếu.

GIẢNG:
Mình luôn dùng Trí tuệ Bát-nhã quán chiếu thì các bệnh chấp pháp, chấp ngã mới trừ được.
Nếu gương không bị che đậy thì không cần nhọc nhằn lau chùi. Nếu để bụi mù phủ lấp thì mờ mịt không chiếu sáng.
CHÁNH VĂN:
Tỏ như trăng Thu,
Trong tợ gương sáng;
Không nhiễm sáu trần,
Liền lên Bát chánh.

GIẢNG:
Phải tập giữ tâm trong sạch tỏ sáng như trăng mùa Thu, như gương trong sáng, không một vết nhơ, không một chút bụi. Đó là thành công của sự tu.
Đối với sáu trần không dính không mắc, đó là đầy đủ Bát chánh đạo.
CHÁNH VĂN:
Đại đạo bằng phẳng,
Mọi người khéo đi;
Mừng gặp tông kia,
Càng thêm vui thích.

GIẢNG:
Đại đạo thường được hình dung là con đường lớn, bằng phẳng. Nhưng thật ra đại đạo là chỉ cho đạo cao siêu tuyệt vời không có gì bì nổi. Tất cả người tu đều phải đi con đường đó, nên phải khéo đi. Tông kia là Thiền tông, gặp Thiền tông thì càng mừng càng vui.
CHÁNH VĂN:
Cúi đầu qui ngưỡng,
Lòng thành cung kính;
Cửa mầu đốn ngộ,
Từ đây càng lớn.

GIẢNG:
Cúi đầu cung kính qui ngưỡng Thiền tông và hết lòng cung kính con đường tu này. Cửa nhiệm mầu chóng ngộ, từ đây đạo đức càng ngày càng tăng, càng thêm lớn. Đó là lời tán thán ca tụng của người viết bài tụng.
CHÁNH VĂN:
Đời Đường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ tám (792), giờ mùi. Sa-môn Bảo Trân cùng Phán quan Triệu Khán Lâm, vâng theo lệnh Trương Đại Phu khảo sát xong, ghi lại nhằm ngày 22 tháng 10 mùa Đông năm đó.
Đời Đường Tỳ-kheo ghi lại nhằm ngày 23 tháng 10 năm Quí Tỵ.
GIẢNG:
Như vậy bài này của Sa-môn Bảo Trân ghi, ra đời sau thời ngài Thần Hội không bao xa.


(1) Bản Hồ Thích câu này chép là: “Không nói đến chẳng có” và “không nói đến chẳng không”.
(1) Bản Hồ Thích, “tưởng phi tưởng” chép là “tướng phi tướng”.

Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
 

Giới thiệu

Tổ Truyền Đăng

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Cách nay 2556 năm 1. TỔ MA HA CA DIẾP Đồng thời đức Phật 2. TỔ A NAN Sanh sau Phật 30 năm 3. Tổ Thương-Na-Hòa-Tu ( Sanakavasa)  Thế kỷ đầu sau Phật Niết-bàn 4. Tổ Ưu-Ba-Cúc-Đa (Upagupta)  Cuối thế kỷ thứ nhất sau Phật Niết-bàn 5. Tổ...

Thống kê

  • Đang truy cập: 63
  • Khách viếng thăm: 61
  • Máy chủ tìm kiếm: 2
  • Hôm nay: 6463
  • Tháng hiện tại: 443410
  • Tổng lượt truy cập: 22652774

Tin xem nhiều

Xem bản: Desktop | Mobile