Nguyền mong thân cận minh sư, quả Bồ Đề một đêm mà chín. Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa Ưu Đàm mấy kiếp đâm bông.
Rss Feed

Uyển Lăng Lục - Đoạn 3

Đăng lúc: Thứ năm - 16/02/2012 18:36 - Người đăng bài viết: Tịnh Cường
ĐOẠN 3
CHÁNH VĂN:  

Chỉ bảo ta biết vậy, học được vậy, khế ngộ vậy, giải thoát vậy, có đạo lý vậy.
GIẢNG: 
Ngài chỉ cho chúng ta biết học đạo là vì sóng thức nổi dậy ầm ầm nên phải làm cho dừng lại, lặng xuống thì mới hiện rõ tánh biển vốn không động.

CHÁNH VĂN:   
Chỗ mạnh ắt như ý, chỗ yếu ắt không như ý, cái thấy biết ấy có dùng vào chỗ gì?
GIẢNG: 
Chỗ mạnh là những gì chúng ta thích thì như ý, không thích thì bất như ý. Người còn phân biệt như vậy là chưa dùng được tâm chân thật.

CHÁNH VĂN:  
Tôi nói với ông, rảnh rang vô sự chớ dối dụng tâm.
GIẢNG: 
Rảnh rang vô sự sướng quá chừng, trên trần gian này đâu có ai sướng hơn. Dù các ông cự phú đầu cũng rối nùi. Người rảnh rang vô sự là tiên rồi. Muốn thế phải làm sao? Mỗi đêm thắp hương cầu Phật cho con rảnh rang vô sự được không? Không được. Việc đó do sức của tự mình, nhất là trí phải sáng. Nhờ trí sáng nên không chấp, không chấp mới rảnh rang vô sự. Vì vậy người tu thì trí Bát-nhã luôn đi đầu. Tất cả sợi dây vọng thức trói buộc chúng ta với các pháp, mình phải dùng kiếm Bát-nhã chặt hết. Chừng nào đứt hết các dây ràng buộc mình mới tự tại. Do đó đêm nào chúng ta cũng tụng Bát-nhã. Nhưng hình như tụng để Phật nghe thôi, chớ không thấm chi tới mình.
Do chúng ta dính mắc với pháp trần, chấp thân chấp cảnh, nên vận dụng trí Bát-nhã quán chiếu thấy thân cảnh là tướng duyên hợp hư dối, không thật. Biết nó hư dối tạm bợ, nên mình không quan trọng, không dính mắc. Đó là một lẽ thực  trongviệc tu.

CHÁNH VĂN:  
Chẳng cần cầu chân, chỉ phải dứt kiến chấp.
GIẢNG: 
Người tu không cần cầu chân mà phải dứt kiến chấp. Câu này hết sức chí lý. Chúng ta thường mắc lỗi là thấy bên này giả, bên kia thật, rồi muốn tìm cho ra cái thật mà không nghĩ rằng chỉ không chấp thật, liền hết kiến chấp. Hết kiến chấp là chỗ chân thật cứu cánh. Còn thấy bên này chân, bên kia giả thì chưa phải cứu cánh.

CHÁNH VĂN:  
Nên nói “thấy trong thấy ngoài đều lầm, Phật đạo ma đạo đều ác”.
GIẢNG: 
Thấy hoặc tâm ở trong, hoặc tâm ở ngoài v.v… đều lầm. Thấy đây là Phật đạo, kia là ma đạo đều sai. Tại sao? Vì hai bên là không thật, cái chân thật không có hai bên.

CHÁNH VĂN:  
Cho nên Ngài Văn Thù vừa khởi thấy hai liền thấy hai ngọn núi Thiết Vi. Văn Thù tức là thật trí, Phổ Hiền tức là quyền trí. Quyền thật đối trị nhau, cứu cánh không có quyền thật, chỉ là một tâm.
GIẢNG: 
Vừa thấy hai liền có hai ngọn Thiết Vi sẵn một bên.

CHÁNH VĂN:  
Tâm chẳng phải Phật, chẳng phải chúng sanh, không có thấy khác.
GIẢNG: 
Tâm là tâm, không nói Phật, không nói chúng sanh.

CHÁNH VĂN:  
Vừa có thấy Phật liền thấy chúng sanh, thấy có thấy không, thấy thường thấy đoạn bèn thành hai ngọn núi Thiết Vi, bị cái thấy che ngại.
GIẢNG: 
Thấy có thấy không, thấy Phật thấy chúng sanh, đó là thấy hai, mà thấy hai là che ngại tâm chân thật rồi.

CHÁNH VĂN:  
Tổ sư chỉ thẳng tất cả chúng sanh bản tâm, bản thể xưa nay là Phật, chẳng nhờ tu mà thành, chẳng thuộc thứ lớp dần dần, chẳng phải sáng tối.
GIẢNG: 
Phật, Tổ chỉ cho chúng ta biết tất cả chúng ta đều có Phật sẵn, Phật sẵn đó không phải do tu mà được. Nếu Phật do tu mà được thì đó là Phật sanh diệt, vì công phu huân tu thuộc pháp sanh diệt. Như vậy tu là tu cái gì? Tu là vận dụng sức phá dẹp vọng thức phân biệt của mình, vọng thức phân biệt lặng sạch thì ông Phật của mình hiện ra, chớ không phải tu để thành ông Phật.
Khi tu là sử dụng thân khẩu ý làm lành làm tốt, làm lành làm tốt thuộc pháp sanh diệt. Sanh diệt là sanh diệt, không thể thành cái không sanh diệt được, vì vậy tu không phải thành Phật, mà tu là dẹp hết vọng tưởng thì Phật sẵn hiện ra, chớ không phải tu để thành Ngài. Lâu nay chúng ta quen nói ráng tu thành Phật, sự thực không phải như vậy. Cái chân thật sẵn có nhưng vì bị che khuất, bây giờ chỉ làm cho nó hiện ra thôi, không nói thành. Tu là vén màn vô minh để Phật hiện ra, chớ không có gì khác. Chuyện Phật đã sẵn có, mình chỉ cần vén màn vô minh lên thì Phật hiện ra, dễ hay khó? Cái đã sẵn mình vạch ra thì dễ quá chừng rồi, nắm chắc trăm phần trăm trong tay. Cái ở đâu tìm kiếm thì không chắc, chớ nó đã sẵn rồi chỉ cần vạch ra là xong, thì đâu có khó. Hết sức đơn giản, chỉ chịu khó vạch màn vô minh hay không chịu khó vạch thôi.
Có người nào nói tôi nguyện suốt kiếp bị vô minh che lấp không, hay nguyện thành Phật? Nếu nguyện theo vô minh thì cần gì tu. Ai cũng nguyện thành Phật, chuyện thành Phật không phải khó, mà khó là tại mình còn thương vô minh. Quí vị có thương thân này không? Thương thì vô minh. Phật dạy chiếu kiến ngũ uẩn giai không, mà thương nó là thấy nó có thật, như vậy không phải vô minh là gì. Thương những suy nghĩ tốt của mình không? Thương, cũng là vô minh luôn. Vô minh làm cho mình khổ, mà thương nó thì làm sao hết khổ.
Ngày nay chúng ta còn khoẻ mạnh còn đủ hơi ấm, còn đi đứng được thì thấy dễ thương. Nhưng ngày mai tắt thở, nằm trên giường chừng ba bữa, không ai để vô quan tài thì còn dễ thương không? Rõ ràng như vậy tại sao mình cứ thương nó. Con người đang sống còn hoạt động, đủ hơi ấm thì tạm vui vẻ với nhau. Nhưng lúc tắt thở rồi dù thân thiết mấy, chia sẻ với mình tất cả mọi buồn vui khốn khó đến đâu, mình cũng không dám trải chiếu nằm một bên. Thân này đã như vậy tại sao ta thương nó? Chỉ nên mượn thân làm việc gì có lợi ích hoặc tu hành để được giải thoát an vui. Nếu nuôi nó để chờ ngày tắt thở, trở thành thây thối thì thật đáng thương, như vậy có phải phí công không?
Sở dĩ nhà Phật thường nói “thân người khó được”, vì khi ta được nó mà không biết tu, không làm lợi ích cho mình cho người, đến khi thân mất rồi khó có thể được lại. Hoặc nhận thân xấu xí lông lá lù xù như con chó, con heo thì khổ nữa. Làm thân người khả dĩ còn có những phút giây tỉnh, còn con chó con gà con heo, có con nào biết thân này vô thường đâu. Chỉ vô thường thôi nó cũng không biết, nói chi đến chân tâm Phật tánh, giác ngộ giải thoát. Cho nên Phật nói thân người khó được, vì sợ mất thân rồi, rơi xuống các đường thấp thì không biết bao giờ tỉnh? Các loài vật thấp hết sống lại chết, tạo nghiệp triền miên, cứ vậy mà đi xuống đi xuống mãi. Được thân người là cơ hội tốt để chúng ta vươn lên, có trí tuệ thấy biết đúng sai chân giả để tu tập chuyển hóa, làm lợi ích cho mọi người. Cho nên được nó rồi phải biết quí trọng và dùng nó đúng cách.
Nếu được thân người rồi cứ lo ăn ngon mặc đẹp, vui vẻ tươi cười chờ ngã đùng chết thì có giá trị gì? Cho nên được thân người, chúng ta phải làm hai việc: một là nhận định đúng thân này ra sao, tìm cái thật ở nơi nó; hai là khi thấy được lẽ thật rồi cố gắng chỉ dạy, bảo cho mọi người cùng thấy lẽ thật đó. Như vậy mới tròn bổn phận của mình. Tự giác giác tha là tâm của Bồ-tát. Vì đạo Phật là đạo giác, đạo thấy đúng như thật. Người nào thấy thân quí, thân thật, đó là người mê. Thấy thân này giả dối tạm bợ, ngày nào còn sống ráng lợi mình, lợi người, đó là cái thấy của người tỉnh. Tỉnh là Bồ-tát, mê là chúng sanh.
 Chúng ta biết tu, biết thương mình phải cố gắng làm sao đừng lệ thuộc vào vòng nghiệp thức lôi cuốn. Mỗi người tự cố gắng phá dẹp vô minh để được sáng suốt. Như vậy mới thật là người tu. Cho nên ở đây nói:

CHÁNH VĂN:  
Chẳng phải sáng nên vô minh, chẳng phải tối nên vô ám, nên nói “không vô minh cũng không hết vô minh”.
GIẢNG: 
Thể tâm chân thật không phải sáng, không phải tối. Nhận được tâm đó rồi thì không có vô minh, cũng không có hết vô minh.

CHÁNH VĂN:  
Vào tông môn tôi đây cần yếu tại ý như thế. Thấy được gọi đó là Pháp, thấy Pháp nên gọi đó là Phật, Phật pháp đều không, gọi đó là Tăng.
GIẢNG:
Vào tông môn tôi đây cần yếu tại ý như thế, người nào vào tông môn của nhà Thiền thì phải biết được ý như vậy.
Thấy được gọi đó là Pháp, thấy Pháp nên gọi đó là Phật, Phật pháp đều không, gọi đó là Tăng. Ở đây nói thấy được tức là thấy được lẽ thực, gọi là pháp, pháp ấy gọi là Phật. Rốt ráo Phật pháp đều không, đó là Tăng. Tại sao thấy Phật, thấy pháp, rồi Phật pháp đều không? Bởi vì thấy Phật, thấy pháp là còn hai bên, mà tâm chân thật không có hai bên. Nhận ra tâm chân thật là Tăng, nên nói không còn hai bên nữa.  

CHÁNH VĂN:  
Kêu là tăng vô vi, cũng gọi là nhất thể Tam Bảo.
GIẢNG:
Tăng là tăng vô vi, tăng không sanh diệt. Vì tăng nhận được thể chân tâm không còn đối đãi, chỉ là tâm chân thật thôi, nên gọi là tăng vô vi không sanh diệt, cũng gọi là nhất thể Tam Bảo. Như vậy Phật Pháp Tăng chung lại một thể, chớ không có hai.

CHÁNH VĂN:  
Phàm người cầu pháp không nên chấp nơi Phật mà cầu, chẳng chấp nơi pháp mà cầu, chẳng chấp nơi chúng tăng mà cầu, nên không có chỗ cầu.
GIẢNG: 
Người cầu pháp mà không chấp Phật Pháp Tăng, nghĩa là không cầu nơi Phật, không cầu nơi Pháp, không cầu nơi Tăng thì cầu cái gì? Cầu vén màn vô minh cho ông Phật của mình hiện ra thôi, chớ không cầu Phật Pháp Tăng ở ngoài.

CHÁNH VĂN:  
Không chấp nơi Phật cầu nên không Phật, không chấp nơi Pháp cầu nên không Pháp, không chấp nơi chúng Tăng cầu nên không Tăng.
GIẢNG: 
Cuối cùng chỉ là tâm, không có Phật Pháp Tăng ở bên ngoài. Phật pháp là phương tiện chớ không phải chân thật, chân thật là trở về tâm trong sạch, sáng suốt, bất sanh bất diệt của mình. Đó là gốc.

CHÁNH VĂN:
Hỏi: Nay thấy Hòa thượng nói pháp thì đâu thể nói không Tăng cũng không Pháp?
Đáp: Nếu ông thấy có pháp nên nói, tức là lấy âm thanh cầu ta, nếu thấy có ta tức là xứ sở, pháp cũng không pháp, pháp tức là tâm.
GIẢNG: 
Nếu thấy có người nói pháp, có người nghe pháp là lấy âm thanh mà cầu. Trong kinh Kim Cang Phật dạy “nếu lấy âm thanh cầu ta người đó hành đạo tà”. Nếu thấy ta có tức có xứ sở là có nơi chốn. Pháp cũng không pháp tức là tâm.Pháp tức là tâm, pháp do Phật nói, Tổ nói, pháp đó không phải pháp bên ngoài. Tất cả đều chỉ về tâm, nên nói pháp tức là tâm.

CHÁNH VĂN:  
Tổ sư nói: “Khi trao tâm pháp này, pháp pháp đâu từng pháp”.
GIẢNG: 
Tổ nói khi trao tâm pháp này, mỗi pháp mỗi pháp đều không phải pháp. Tại sao? Vì tất cả đều hướng về tâm. 

CHÁNH VĂN:  
Không pháp, không bổn tâm mới hiểu tâm tâm pháp.
GIẢNG: 
Nghĩa là khi không thấy có một pháp thật, cũng không chấp tâm có chân có giả. Lúc đó mới hiểu được tâm tâm pháp là tâm mà Tổ muốn chỉ.

CHÁNH VĂN:  
Thật không một pháp có thể được gọi là ngồi đạo tràng. Đạo tràng chỉ là không khởi các kiến chấp.
GIẢNG: 
Người nào không thấy một pháp có thể được, không thấy có một pháp thật, đó là ngồi đạo tràng. Như vậy đạo tràng ở chỗ nào? Ở đâu mà thấy pháp thật thì không phải đạo tràng. Ngồi chỗ nào mà thấy các pháp duyên hợp hư ảo, không có gì quan trọng thì chỗ ấy là đạo tràng, nơi nơi là đạo tràng. Đạo tràng chỉ là không khởi các kiến chấp, ngồi đâu mà không khởi kiến chấp, chỗ đó là đạo tràng.

CHÁNH VĂN:  
Ngộ pháp vốn không, gọi là không Như Lai tàng. Xưa nay không một vật chỗ nào dính bụi bặm. Nếu được ý trong đây, tiêu diêu đâu có chỗ bàn.
GIẢNG:
Ngộ pháp vốn không tức ngộ các pháp vốn là không, thể tánh nó không, không thật, đó gọi là không Như Lai tàng. Dẫn lời Tổ Huệ Năng nói “Xưa nay không một vật chỗ nào dính bụi bặm”, đó là ngài thấy đến chỗ tột cùng không Như Lai tàng. Nếu được ý trong đây, thì người đó tiêu diêu không có chỗ nghĩ bàn.

CHÁNH VĂN:  
Hỏi: Xưa nay không một vật, không vật là phải chăng?
Đáp: Không cũng chẳng phải. Bồ-đề không chỗ ấy, cũng không không hiểu biết.
GIẢNG: 
Nếu chấp cái không thì cái không ấy cũng không phải. Tại sao? Vì Bồ-đề không có cái không cũng không có cái có, cho nên cũng không không hiểu biết.

CHÁNH VĂN:  
Hỏi: Sao là Phật?
Đáp: Tâm ông là Phật, Phật tức là tâm, tâm Phật không khác. Nên nói: “tức tâm là Phật”. Nếu lìa tâm ra không có Phật khác.         
GIẢNG: 
Xác nhận tâm chúng ta là Phật. Nói tâm là Phật là nói tâm nào, có phải tâm suy nghĩ phải quấy, hay dở không? Tâm đó không phải Phật. Tâm Phật là tâm không dính gì hết, không chấp cái gì hết, tâm đó tức là Phật. Phật là chỉ cho tâm hiện biết tất cả mà không dính, không chấp.



Tác giả bài viết: HT Thích Thanh Từ
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Giới thiệu

Tổ Truyền Đăng

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni Cách nay 2556 năm 1. TỔ MA HA CA DIẾP Đồng thời đức Phật 2. TỔ A NAN Sanh sau Phật 30 năm 3. Tổ Thương-Na-Hòa-Tu ( Sanakavasa)  Thế kỷ đầu sau Phật Niết-bàn 4. Tổ Ưu-Ba-Cúc-Đa (Upagupta)  Cuối thế kỷ thứ nhất sau Phật Niết-bàn 5. Tổ...

Thống kê

  • Đang truy cập: 70
  • Hôm nay: 13939
  • Tháng hiện tại: 349740
  • Tổng lượt truy cập: 23107646

Tin xem nhiều

Xem bản: Desktop | Mobile