Nguyền mong thân cận minh sư, quả Bồ Đề một đêm mà chín. Phúc gặp tình cờ tri thức, hoa Ưu Đàm mấy kiếp đâm bông.
Rss Feed

Thiền Tông Bản Hạnh - Phần XI

Đăng lúc: Thứ ba - 09/10/2012 16:35 - Người đăng bài viết: Thiền Lâm
Thiền Tông Bản Hạnh - Phần XI

Thiền Tông Bản Hạnh - Phần XI

CÁC BÀI KỆ, NIÊM TÂM HOA KỆ,MẬT THỌ TÂM ĐĂNG

CÁC BÀI KỆ

1. Âm:

NIÊM TÂM HOA KỆ

Thích Ca xuất thế đại nhân duyên,

Ca Diếp đầu cơ đắc ấn truyền.

Niêm hoa vi tiếu nghiễm nhiên tại,

Lạc diệp phân phương biến đại thiên.

Dịch:

KỆ ĐƯA HOA TÂM

Thế Tôn xuất hiện đại nhân duyên,

Ca Diếp hợp cơ được ấn truyền.

Đưa hoa cười mỉm vẫn còn đấy,

Lá rụng hương thơm khắp đại thiên.

GIẢNG:

Niêm Tâm Hoa Kệ là kệ đưa hoa tâm, chỉ hình ảnh đức Phật đưa cành hoa trên hội Linh Sơn, dưới đại chúng ngài Ca Diếp nhìn lên thấy liền mỉm cười.

“Thế Tôn xuất hiện đại nhân duyên”, đức Phật ra đời vì có đại sự nhân duyên. Đại sự nhân duyên là gì? Là khai thị chúng sanh ngộ nhập Phật tri kiến hay tánh giác.

“Ca Diếp hợp cơ được ấn truyền”, ngài Ca Diếp nhìn hoa sen, do Ngài ứng hợp với chỗ Phật muốn chỉ nên Ngài liền được truyền tâm ấn.

“Đưa hoa cười mỉm vẫn còn đấy”, hình ảnh đức Phật đưa cành hoa, Tổ Ca Diếp mỉm cười đến nay vẫn còn đó, không mất.

“Lá rụng hương thơm khắp đại thiên”, nơi nơi chốn chốn đều được hưởng hương vị của việc tâm truyền. Hình ảnh truyền tâm từ buổi ban đầu đức Phật đưa cành hoa sen lên, Tổ Ca Diếp hợp cơ cảm ứng liền được truyền tâm ấn, hình ảnh đó mãi đến ngày nay vẫn còn. Ngày xưa chỉ có đức Phật với ngài Ca Diếp, mà nay nơi nào chốn nào cũng có hình ảnh đó đem lại sự an lành tốt đẹp cho nhiều người.

2. Âm:

Niêm hoa vi tiếu chỉ truyền lai,

Chánh pháp tùng tư xứ xứ khai.

Điện quyện phong trì hưu nghĩ nghị,

Đức Sơn, Lâm Tế hát như lôi.

Dịch: Đưa hoa cười mỉm chỉ truyền đây,

Chánh pháp từ nay chốn chốn bày.

Điện cuốn gió đùa thôi nghĩ tính,

Đức Sơn, Lâm Tế hét vang tai.

GIẢNG:

“Đưa hoa cười mỉm chỉ truyền đây, Chánh pháp từ nay chốn chốn bày”.

Đức Phật đưa hoa sen, Tổ Ca Diếp mỉm cười. Tông chỉ ấy truyền mãi đến ngày nay, chánh pháp đó từ xưa đến nay, khắp nơi đều hiển bày. Ở Trung Hoa, Việt Nam, Nhật Bản, Triều Tiên v.v... đều còn hình ảnh đó và đều truyền bá tâm tông nầy.

“Điện cuốn gió đùa thôi nghĩ tính”. Lối truyền đó nhanh như điện chớp, như gió đùa, đừng dùng tâm nghĩ nghị tính toán. Nghĩa là một câu nói, một hành động mà chúng ta không theo kịp, hay là không bắt được thì nó đi mất, cho nên:

“Đức Sơn, Lâm Tế hét vang tai”. Một tiếng hét của Đức Sơn, một tiếng hét của Lâm Tế đủ cho chúng ta ngộ đạo, còn nếu mình chậm thì không bao giờ thấy, không bao giờ nhận ra được.

3. Âm:

Linh Sơn hội thượng niêm hoa nhật,

Ca Diếp thân truyền hướng thượng cơ.

Tùng thử tuệ đăng quang hiển hách,

Phổ thiên đại địa mãn trường huy.

Dịch:

Trên hội Linh Sơn dở cành hoa,

Thân truyền Ca Diếp nhằm thượng cơ.

Đèn tuệ từ đây càng rực rỡ,

Đất trời đầy khắp mãi sáng lòa.

GIẢNG:

Qua bài kệ chúng ta thấy rõ ràng lặp đi lặp lại ý nghĩa đức Phật đưa cành hoa Tổ Ca Diếp mỉm cười, đó là tinh thần Thiền Tông từ thuở đức Phật Thích Ca truyền mãi đến ngày nay. Đường lối Phật đưa cành hoa, ngài Ca Diếp mỉm cười là nhằm vào hàng thượng cơ. Khi người thượng cơ ngộ được rồi thì từ đó sẽ là ngọn đèn, là cây đuốc trí tuệ soi sáng cho mọi người, nên nói “Đèn tuệ từ đây càng rực rỡ”. Rực rỡ đến đâu? “Đất trời đầy khắp mãi sáng lòa”, khắp nơi khắp chốn đâu đâu cũng sáng ngời.

Tóm lại ba bài kệ trên là nhắm thẳng việc đức Phật đưa cành hoa sen, Tổ Ca Diếp mỉm cười, đó là ngộ được tâm nhân thấy cành hoa, nên gọi là kệ đưa hoa tâm.

4. Âm:

MẬT THỌ TÂM ĐĂNG

Nhất điểm tâm đăng Phật nhãn sanh,

Tương truyền tứ mục cố phân minh.

Liên phương tục diệm quang vô tận,

Phổ phó thiền lâm thọ hữu tình.

Dịch:

THẦM TRAO ĐÈN TÂM

Một ngọn đèn tâm mắt Phật sanh,

Đồn rằng bốn mắt ngó phân minh.

Tiếp hương nối lửa sáng không dứt,

Trao khắp rừng thiền chúng hữu tình.

GIẢNG:

Bài trên chỉ nói Phật đưa cành hoa, Tổ Ca Diếp mỉm cười, bài nầy nói thêm mắt Phật nhìn xuống, ngài Ca Diếp nhìn lên, bốn mắt đối nhau, nhân đó Ngài ngộ nên gọi là Mật thọ tâm đăng, tức là thầm trao đèn tâm. Trao bằng cách nào?

“Một ngọn đèn tâm mắt Phật sanh.” Mắt Phật nhìn Tổ Ca Diếp, đó là Phật đã đem ngọn đèn tâm trao cho Tổ.

“Đồn rằng bốn mắt ngó phân minh”. Phật nhìn xuống, Tổ nhìn lên, bốn mắt ngó rõ ràng, đó là đã trao tâm ấn rồi.

“Tiếp hương nối lửa sáng không dứt”. Người sau, môn đồ của chư Tổ luôn luôn tiếp nối đèn tâm này, nên nói tiếp hương nối lửa sáng mãi không cùng không dứt. Nếu dứt thì ngày nay chúng ta đâu còn hiểu để tu.

“Trao khắp rừng thiền chúng hữu tình”. Nhiều người tu thiền, ngộ được thiền, chỗ đó rất nhiều nên gọi là rừng thiền. Trao khắp rừng thiền cho các chúng hữu tình.

5. Âm:

TỰ TÁNH ỨNG DỤNG

Hiển hách phân minh thập nhị thời,

Thử chi tự tánh nhậm thi vi.

Lục căn vận dụng chân thường kiến,

Vạn pháp tung hoành chánh biến tri.

Dịch: ỨNG DỤNG TÁNH MÌNH

Rực rỡ rõ ràng suốt cả ngày,

Đây là tự tánh mặc hiện bày.

Sáu căn vận dụng chân thường thấy,

Muôn pháp dọc ngang giác ngộ ngay.

GIẢNG:

Mật thọ tâm đăng là dùng mắt nhìn, đó là thầm trao, còn Tự tánh ứng dụng là trong tự tánh mình dấy lên những công dụng hay là những hành động của mình.

“Rực rỡ rõ ràng suốt cả ngày, Đây là tự tánh mặc hiện bày.” Tức là nơi mình suốt cả ngày từ sáng đến chiều tối, lúc nào tự tánh cũng hiển bày rõ ràng, không bao giờ thiếu vắng. Nó hiện bày ở đâu?

“Sáu căn vận dụng chân thường thấy.” Ngay nơi sáu căn mình vận dụng, tức là có những hành động những hiểu biết đều từ cái thấy chân thường, chớ không phải điên đảo vọng tưởng. Điểm này quan trọng vô cùng. Như hiện nay, từ sáng đến chiều chúng ta sống mà cứ nghĩ mình đi chợ, mình làm công tác này công tác kia v.v... Những cái nghĩ sắp đặt làm công kia việc nọ trong một ngày là ai nghĩ? Tự nhiên chúng ta nói là tôi nghĩ. Như vậy cái nghĩ đó là tôi. Giả sử từ sáng đến chiều hoặc một giờ, nửa giờ ngồi chơi mà không nghĩ gì hết, lúc đó có tôi không? Nếu nghĩ là tôi nghĩ thì khi không nghĩ tôi có không? Nếu không nghĩ cho là không có tôi, chúng ta đồng ý không? Những giờ phút ngồi lặng lẽ thản nhiên không nghĩ suy, nếu không có tôi thì có ai bóp mũi chúng ta cũng không la, tại sao lúc đó chúng ta lại không chịu được? Như vậy tuy không nghĩ mà mắt vẫn thấy, tai vẫn nghe, xúc chạm vẫn biết ... có biết là ai biết, lẽ ra cái đó mới là tôi.

Như vậy cái nghĩ là tôi hay cái không nghĩ là tôi? Nếu cái nghĩ là tôi chắc là khi thì có mình, khi thì mình đi chơi mất, chỉ còn cái xác không. Trái lại nếu mình biết có cái chân thật của mình hiện tiền, chỉ vì những vọng tưởng khởi lên lặng xuống lăng xăng, cũng giống như buổi trưa mặt trời sáng rỡ, thỉnh thoảng trời chuyển mưa mây đen kéo qua. Khi có mây thì không thấy ánh sáng mặt trời nhưng đừng nói là không có mặt trời. Từ trước đến nay chúng ta thường có bệnh chỉ nhận những gì động, còn những gì không động thì không nhận. Hiện nay khi không nghĩ chúng ta biết mà cái biết đó có động không? Không nghĩ mà người nói mình nghe thì cái nghe đó có động không? Không nghĩ mà gió thổi mình biết mát, cái biết đó có động không? Như vậy để thấy đây là nói thẳng, nghĩa là cái thật đó rực rỡ rõ ràng suốt cả ngày, đó là tự tánh mặc tình hiện bày đầy đủ. Cái chân thường hiện ở sáu căn mình vận dụng luôn luôn, biết đi, biết nhìn, biết nói..., nó là sẵn trong đó.

“Muôn pháp dọc ngang giác ngộ ngay”. Nếu nhận được như vậy, thấy được như vậy thì ở giữa muôn pháp chúng ta đi dọc đi ngang vẫn là được giác ngộ chớ không có gì khác.

6. Âm:

Cùng kim tuyên cổ bổn như như,

Pháp tánh viên đồng thước thái hư.

Ứng xuất lục căn năng vận dụng,

Tinh thông vạn pháp triệt vô dư.

Dịch:

Tột cùng kim cổ vốn như như,

Pháp tánh tròn đồng khắp thái hư.

Ứng hiện sáu căn hay vận dụng,

Rõ rành muôn pháp tột không thừa.

GIẢNG:

Bài này và bài trên nói rõ cái chân thật hiện đầy đủ nơi sáu căn của chúng ta, chớ không thiếu vắng bao giờ. Chỉ vì không khéo nhận, không khéo biết nên chúng ta khỏa lấp nó, quên mất nó.

7. Âm:

TỰ TÁNH ỨNG HIỆN

Pháp tánh chân không vô tứ đại,

Sắc tướng hình dung hữu lục căn.

Hải để kim ô thiên thượng nhật,

Nhãn trung đồng tử diện tiền nhân.

Dịch:

TỰ TÁNH ỨNG HIỆN

Pháp tánh chân không chẳng tứ đại,

Hình dung sắc tướng có sáu căn.

Đáy biển quạ vàng trên mặt nhật,

Con ngươi trong mắt nơi mặt người.

GIẢNG:

Bài trên là ứng dụng, bài này là ứng hiện.

“Pháp tánh chân không chẳng tứ đại”, đứng về mặt pháp tánh chân không thì không có tứ đại. Tứ đại không phải là pháp tánh, không phải là chân không, nhưng:

“Hình dung sắc tướng có sáu căn”. Khi duyên hợp, tứ đại chung hợp thì có hình dung, có sắc tướng rồi có sáu căn. Hai câu tiếp theo thật là hay:

“Đáy biển quạ vàng trên mặt nhật”. Câu này mới nghe thật là khó hiểu. Quạvàng hay quạ lửa là chỉ mặt trời, “Đáy biển quạ vàng” là chỉ bóng mặt trời nằm dưới đáy biển; “trên mặt nhật” là mặt trời thật thì ở trên hư không. Nhìn xuống đáy biển chúng ta thấy bóng mặt trời, như vậy mặt trời ở dưới đáy biển là bóng chớ không phải mặt trời thật. Mặt trời thật là ở trên hư không. Cũng như vậy chân tánh, chân không hay pháp tánh không có tứ đại nhưng khi tứ đại duyên hợp thì có thân này có sáu căn. Hình dung sắc tướng của thân này là bóng chớ không phải thật.

Nhưng trong cái bóng đó nếu khéo nhìn sẽ thấy được cái thật. Thế nên câu kết thúc rất rõ:

“Con ngươi trong mắt nơi mặt người”. Con ngươi ở đâu? Ở giữa tròng con mắt. Con mắt ở đâu? Trên mặt người chớ đâu có xa. Con mắt thấy nhờ cái gì? Nhờ con ngươi. Như vậy cái trọng tâm có sẵn nơi con mắt của mình cũng như cái chân tánh có sẵn trong thân tứ đại này, trong sáu căn của mình chớ không ở đâu xa. Con mắt nằm trên mặt, con mắt với mặt có xa không? Nó nằm trên mặt nhưng chúng ta không thấy nó mà chỉ thấy thiên hạ. Như vậy để nói rằng chúng ta có tâm giác biết tất cả những gì ở ngoài mà không biết chính tâm giác của mình. Hằng ngày chúng ta sống, phân biệt rành rẽ mọi sự vật chung quanh nhưng không biết cái hay phân biệt của mình ra sao, vì thế chúng ta phê bình người thì dễ mà phê bình mình thì khó. Mình có cả mươi điều xấu mà ít khi thấy, còn người chỉ một hai việc xấu lại thấy liền. Đó là bệnh thấy ra ngoài, biết ra ngoài mà không biết trở lại mình. Như vậy con mắt nằm trên mặt nhưng trọng tâm của mắt là con ngươi nằm sẵn trong mắt. Cũng như trong thân tứ đại duyên hợp này có tánh giác chân thật mà chúng ta không biết. Nhưng tánh giác chân thật đó hiện nơi đâu? Hiện nơi sáu căn cũng như con ngươi nằm sẵn nơi tròng mắt chớ không ở đâu xa.

Tóm lại hai câu này nói rõ cái tướng do tứ đại hòa hợp là tướng hư dối, nhưng trong đó có cái chân thật. Cũng như nhìn dưới đáy nước thấy bóng mặt trời, bóng mặt trời là bóng, là hư dối nhưng nếu chịu khó nhìn ngược trở lên thì sẽ thấy mặt trời thật. Vì mắt chỉ nhìn xuống nên dễ thấy, ít nhìn lên nên khó thấy, thấy mặt trời dưới nước là chỉ thấy cái bóng, nếu chịu khó nhìn ngược trở lên thì mới thấy mặt trời thật. Cũng thế, chúng ta phóng ra ngoài để tìm biết bên ngoài thì tất cả tướng ở ngoài là tướng duyên hợp hư dối không thật, biết những tướng đó là biết cái bóng thôi. Chỉ cần quay lại nhìn cái thật của mình, thấy được cái thật của mình, đó mới là cái chân thật. Thế nên ở đây khéo trình bày bằng hai hình ảnh. Hình ảnh thứ nhất là bóng mặt trời dưới nước không phải là mặt trời thật. Hình ảnh thứ hai là con ngươi nằm sẵn trong con mắt mà con mắt ở trên mặt, muốn tìm lại con ngươi thì chỉ ngay nơi con mắt trên mặt mà thấy, chớ không cần tìm kiếm ở đâu xa.

Như vậy ý nghĩa tự tánh ứng hiện rất là rõ.

8. Âm:

THẦN CƠ HIỂN HÓA

Phật pháp diệu lý vô đa tự,

Tổ đạo huyền cơ hát nhất thinh.

Bất thị xuân lôi âm nhất chấn, Tranh giao hàm giáp tận khai minh.

Dịch:

CƠ THẦN BÀY LỘ

Lý mầu Phật pháp không nhiều chữ,

Đạo Tổ cơ huyền tiếng hét to.

Nếu chẳng sấm xuân vang một tiếng,

Làm sao trong vỏ mầm nở tung.

GIẢNG:

Những bài này rất súc tích nên nghe khó hiểu. “Lý mầu Phật pháp không nhiều chữ”. Lý nhiệm mầu của Phật pháp không phải nhiều chữ nhiều lời, đó là một lẽ thật, chỉ có ai khéo nhận khéo thấy thì được.

“Đạo Tổ cơ huyền tiếng hét to”. Nói lý mầu Phật pháp và đạo Tổ cơ huyền, đó là lối nói đối đãi để nghe cho dễ hiểu, chớ thật ra chỉ là một thôi. Một tiếng hét mà khéo nhận thì thấy rõ được cơ huyền của đạo Tổ. Tại sao phải một tiếng hét mới thấy? Ngài giải thích:

“Nếu chẳng sấm xuân vang một tiếng, Làm sao trong vỏ mầm nở tung” .

Nếu không phải mùa xuân trời bắt đầu có sấm thì làm sao các hạt vỏ cứng có thể nẩy mầm? Không phải tiếng sấm làm cho hạt nẩy mầm, nhưng nhờ có sấm rồi có mưa nên các hạt nứt vỏ nẩy mầm tung ra. Như vậy tiếng sấm là báo hiệu cho cơn mưa sắp tới cũng như tiếng hét là thầm chỉ cho cái chân thật vô ngôn. Có lời là sai nên buộc lòng phải hét. Cơ thần này là để giúp cho  húng ta sớm tỉnh giác chớ không phải là chuyện lạ lùng. Một tiếng hét là để đánh thức chúng ta nhớ lại mình, ngộ được mình, cũng như tiếng sấm mùa xuân khiến cho các hạt nẩy mầm vậy.

9. Âm:

Nhất hát đương dương tuyệt điểm ai,

Vạn trùng quan tỏa hoát nhiên khai.

Minh minh đại đạo bình như chưởng,

Cập đệ tâm không qui khứ lai.

Dịch:

Một hét đang thời bặt điểm nhơ,

Muôn vòng cổng khóa bỗng tung ra.

Đại đạo sáng ngời như tay mở,

Tâm không thi đậu thảnh thơi về.

GIẢNG:

Bài này nói thêm ý nghĩa thần cơ. “Một hét đang thời bặt điểm nhơ”. Một tiếng hét phát lên làm cho chúng ta dứt sạch tất cả điểm nhơ. Những điểm nhơ là những ý niệm lăng xăng. Một tiếng hét chúng ta nghĩ được gì? Thí dụ hỏi: Bạch Hòa thượng, thế nào là Phật? Các Ngài hét lên một tiếng, lúc đó chúng ta nghĩ gì? Chỉ còn lễ rồi lui, đó là làm sạch hết những điểm nhơ. Một niệm nghĩ là một điểm nhơ trong tự tánh, như vậy ai nghĩ nhiều thì sao? Người đời cho rằng nghĩ nhiều là khôn nhiều, nhưng không ngờ trong đạo nghĩ nhiều là nhơ nhiều, cho nên muốn hết nhơ thì phải bặt suy nghĩ.

Đó là điều rất rõ.

“Muôn vòng cổng khóa bỗng tung ra”. Cổng có nhiều vòng khóa, một tiếng hét làm nó tan hết. Tâm chúng ta có bị khóa nhiều lớp không? Chúng ta thấy như tâm mình thảnh thơi tự do, không ngờ nó bị khóa rất nhiều lớp. Ghét thương, giận hờn, cố chấp việc này điều kia... đó là những lớp khóa. Chúng ta tưởng đâu thảnh thơi lắm nào ngờ chúng ta là người bối rối nhất. Tại sao? Hết giận tới thương, hết thương tới ghét đủ các thứ, không bối rối sao được! Nhưng nhờ một tiếng hét mấy lớp giận hờn tan hết. Khi những niệm đó tan rồi chúng ta mới thật thảnh thơi. Quí vị có ai được thảnh thơi chưa? Đừng thấy ở chùa không có gia đình, không có gì cả, tưởng là thảnh thơi, nhưng chưa hẳn, vì vẫn còn thương ghét huynh đệ, giận hờn đệ tử, toan tính thế này thế kia ... cho nên tất cả những điều đó là những vòng khóa làm cho mình phải bị cột trong đó. Khi nào chúng ta không còn những niệm thương ghét buồn giận, khi ấy mới thật là thảnh thơi. Mà muốn tan hết những niệm đó chỉ cần một tiếng hét, tiếng hét của các Tổ làm tan hết các niệm. Tan hết thì thế nào?

“Đại đạo sáng ngời như tay mở”. Bình như chưởng là như lòng bàn tay xòe ra bằng phẳng ở trước mắt rõ ràng không xa. Đại đạo sáng ngời như bàn tay xòe ra bằng phẳng ở trước mắt. Nếu tan hết những vòng khóa buồn thương giận ghét thì đại đạo hiện trước mắt như bàn tay xòe ra không cần tìm kiếm nơi đâu cả. Như vậy tu không phải là cái gì xa lạ, nó thật tế trăm phần trăm, ở ngay trước mắt mình nên câu kết:

“Tâm không thi đậu thảnh thơi về”. Đó mới thật là thảnh thơi. Tâm “không” tức là không tất cả những niệm thương ghét, vui buồn, phải quấy, hơn thua, những niệm đó đều sạch hết, đó là người thi đậu, người đạt đạo. Lúc đó mới thật là thảnh thơi đi đông đi tây, không có gì trở ngại nữa. Trái lại nếu tâm còn “có” thì bị cột trói chớ chưa thảnh thơi. Vậy người tu muốn đến chỗ hoàn toàn tự do tự tại, tức là giải thoát thì phải dứt bặt những niệm ghét thương, hờn giận, phải quấy... Những niệm đó tan biến hết mới thật là con người giải thoát, mới thật là con người tự tại, đó gọi là thi đậu đi về thảnh thơi. Nếu không thì hẳn là thi rớt, trở về vừa đi vừa buồn khóc khổ sở. Quí vị muốn thi đậu thì cố gắng, bài thi là chỗ đó.

10. Âm:

LIỄU VÔ SỞ LIỄU

Liễu liễu liễu kiến vô nhất vật, Diệc vô nhân hề diệc vô Phật.

Đại thiên sa giới hải trung âu,

Nhất thiết Thánh Hiền như điện phất.

Dịch:

RÕ KHÔNG BỊ RÕ

Rõ rõ rõ thấy không một vật,

Cũng không người chừ cũng không Phật.

Thế giới đại thiên bọt trong biển,

Tất cả Thánh Hiền như điện chớp.

GIẢNG:

Bài kệ này là trích một đoạn trong bài Chứng Đạo Ca của Thiền sư Huyền Giác, chớ không phải là tác phẩm của ngài Chân Nguyên. Nhưng Ngài trích vào đây tức là có mang ý nghĩa nói lên cơ duyên ngộ đạo để chúng ta thấy là chỉ cần bốn câu trong Chứng Đạo Ca cũng là cơ hội chúng ta ngộ đạo, chớ không phải cả một quyển kinh hay cả một quyển sách.

“Rõ rõ rõ thấy không một vật”. Nếu chúng ta thấy rõ ràng thấu suốt rồi thì không một vật. Chính câu này là câu Lục Tổ Huệ Năng đã nói “Bản lai vô nhất vật”. Khi ngộ đạo rồi chúng ta nhìn tường tận muôn sự muôn vật trên thế gian thấy không một vật nào là thật, nhưng trong đó rõ ràng cái thể bất sanh bất diệt không hình tướng nên không phải là một vật.

“Cũng không người chừ cũng không Phật”. Tại sao? Người là chỉ cho mê, Phật là chỉ cho giác. Nếu đã thấy tường tận thì không còn trong đối đãi giữa mê và giác. Đến chỗ cứu kính không có giác cũng không có mê, cũng như khi trời giữa trưa chúng ta không còn nói là sáng. Nếu lúc chập chờn từ tối bước qua sáng tức là lúc rạng đông thì chúng ta nói sáng vì mới qua đêm tối. Buổi chiều mặt trời sắp lặn, lúc đó chúng ta thấy hết sáng qua tối. Còn giữa trưa không nói sáng nhưng không phải là không sáng vì cái sáng đã rõ ràng không còn là cái sáng đối đãi với cái tối. Thế nên ở đây Ngài dùng ba chữ liễu, chữ liễu dịch là rõ cũng hơi yếu vì liễu có khi gọi là liễu ngộ nhưng gượng dịch như vậy. Khi nhìn tường tận chỗ cứu kính thì không có một vật nào để còn có đối đãi, nên không có người cũng không có Phật.

“Thế giới đại thiên bọt trong biển”. Kể cả tam thiên đại thiên thế giới lớn vô cùng vô tận nhưng đối với cái thể không một vật này, nó giống như hạt bọt trong biển cả, không có nghĩa lý gì.

“Tất cả Thánh Hiền như điện chớp”. Nói là Thánh là Hiền chẳng qua là giả danh tạm đặt chớ không phải thật nên giống như làn điện chớp xẹt qua rồi mất.

Tóm lại nếu người nào liễu ngộ tường tận thì không còn sở liễu. Không còn năng sở tức là dứt đối đãi. Chỗ không còn đối đãi đó thênh thang không bờ mé, không giới hạn, cả thế giới tam thiên đại thiên so với chỗ đó cũng như một hòn bọt trong biển cả. Người tu đến chỗ cứu kính rồi thì không còn bị giới hạn đâu là ranh giới của tâm của vật, đâu là ranh giới của năng của sở, tức là không còn đối đãi hai bên nữa.

11. Âm:

XẢ HUYỄN CHỨNG CHÂN

Pháp tánh viên minh thước thái hư,

Chỉ nhân vọng động kết thành khu.

Nhược năng tịnh tọa trừng thanh chiếu,

Thường tịch quang trung nhất vật vô.

Dịch:

XẢ HUYỄN CHỨNG CHÂN

Pháp tánh sáng tròn khắp thái hư,

Bởi vì vọng động kết thành thân.

Nếu hay tịnh tọa lóng trong sáng,

Trong thường tịch quang một vật không.

GIẢNG:

Đây nói khi chúng ta bỏ được cái hư ảo huyễn hóa thì nhận ra được cái chân thật.

“Pháp tánh sáng tròn khắp thái hư”. Pháp tánh sáng tròn ấy trùm khắp cả hư không, không bị hạn chế.

“Bởi vì vọng động kết thành thân”. Tại sao chúng ta có thân này? Tại sao chúng ta còn đi trong sanh tử? Đó là vì vọng động. Một niệm dấy lên chúng ta theo nó, đó là nhân để thành thân này, cho nên nói vọng động hay niệm khởi là nhân tạo nghiệp, do nghiệp mà có thân này. Nếu còn vọng động tức là tiếp tục luân hồi sanh tử.

“Nếu hay tịnh tọa lóng trong sáng”. Nếu người nào khéo tọa thiền, lòng lóng lặng trong sáng thì không còn vọng niệm, vọng niệm không còn thì nhân sanh tử cũng giảm. Vậy muốn thoát ly sanh tử không gì hơn là phải lóng lặng vọng tưởng vọng động. Khi vọng tưởng lặng rồi đó là nhân để được Niết Bàn hay đạt được pháp tánh tròn sáng khắp hư không. Thế nên nói: “Nếu hay tịnh tọa lóng trong sáng, Trong thường tịch quang một vật không”. Thường tịch quang là thường tịch quang độ, là cõi thường tịch quang, tức chỉ cõi của pháp thân. Trong pháp thân không có một vật. Vì khi tâm lóng trong lặng lẽ không dấy động thì không còn kết tụ thành thân, mà không kết tụ thành thân thì ở trong pháp thân hoàn toàn không có một vật nào có tướng có hình, vì vậy mà dứt mầm sanh tử, dứt hết tất cả vô thường nên gọi là “xả huyễn chứng chân”.

12. Âm:

CHÂN NGUYÊN TRẠM TỊCH

Thiên địa phụ mẫu vị sanh tiền,

Tịch quang viên trạm thị chân nguyên.

Tự giác giác tha danh viết Phật,

Từ bi thuyết pháp lợi nhân thiên.

Dịch:

CHÂN NGUYÊN LẶNG LẼ

Trời đất mẹ cha khi chưa sanh,

Tịch quang tròn lặng là chân nguyên.

Tự giác giác tha gọi rằng Phật,

Từ bi thuyết pháp lợi người trời.

GIẢNG:

Trong bài kệ trên ngài Chân Nguyên định nghĩa thế nào là Chân nguyên. Chân là chân thật, nguyên là nguồn. Chân nguyên là nguồn chân thật.

“Trời đất cha mẹ khi chưa sanh” là chưa có trời đất, chưa có cha mẹ cũng như chưa có chúng ta.

“Tịch quang tròn lặng là chân nguyên”. Tịch là lặng, quang là sáng. Cái tròn lặng sáng suốt đó là chân nguyên. Vậy chân nguyên là chỗ tròn lặng sáng suốt khi chưa có trời đất, chưa có cha mẹ hay là chưa có chúng sanh.

“Tự giác giác tha gọi rằng Phật”. Phật là gì? Sau khi một chúng sanh thức tỉnh, giác ngộ biết được nguồn gốc chân nguyên, đó là tự giác. Từ tự giác đem ra giảng dạy cho người khác cùng được giác gọi là giác tha. Ai tròn đủ tự giác giác tha gọi là Phật. Khi đã là Phật thì:

“Từ bi thuyết pháp lợi trời người”. Phật là do tự giác giác tha viên mãn, nên lòng từ bi tròn đầy trùm khắp, thương cả trời người, vì thế luôn luôn thuyết pháp để độ trời người. Chúng ta thường cho rằng phàm phu là si mê, cõi thế gian trần tục nhiều khổ đau, nếu được sanh cõi trời thì rất hạnh phúc vì cõi trời an vui sung sướng, đầy đủ dục lạc. Nhưng đối với nhà Phật, cõi trời vẫn còn sanh tử tức là còn luân hồi nên chưa phải là chỗ an vui tuyệt vời, vì thế Phật vẫn phải thuyết pháp để độ chư thiên. Trong kinh kể có lần đức Phật lên cung trời Đao Lợi để thuyết pháp độ mẫu hoàng và chư thiên trên đó. Như vậy cõi trời chưa phải là nơi hết sanh tử, nhưng người phàm phu rất thích được lên trên đó hưởng sung sướng.

13. Âm:

Vạn pháp không hoa giai bất thật,

Vị độ quần sanh giả lập quyền. Liễu liễu bổn lai vô nhất vật,

Chân nguyên trạm tịch phục hoàn nguyên.

Dịch:

Muôn pháp không hoa đều chẳng thật,

Vì độ quần sanh tạm lập quyền.

Rõ rõ xưa nay không một vật,

Chân nguyên lặng lẽ lại hoàn nguyên.

GIẢNG:

“Muôn pháp không hoa đều chẳng thật”. Giữa thế gian này muôn pháp đều giả ảo giống như hoa đốm trong hư không không có gì thật. Không hoa là hoa đốm trong hư không. Mùa hè nắng chang chang, đi ngoài trời một lúc chúng ta dụi mắt nhìn thấy trong hư không có những điểm chớp chớp, gọi đó là hoa đốm. Những hoa đốm đó chỉ là do mắt bị chóa nhìn thấy, chớ chúng hoàn toàn không thật, nên nói “muôn pháp không hoa đều chẳng thật”.

“Vì độ quần sanh tạm lập quyền”. Vì độ tất cả chúng sanh mê muội nên quyền lập ra các pháp tam thừa, ngũ thừa v.v... , tùy cơ lập ra để giáo hóa chớ các pháp không thật.

“Rõ rõ xưa nay không một vật”. Nếu thấy tường tận thì xưa nay không một vật nào là thật và khi thấy được không một vật thật thì sẽ thấy:

“Chân nguyên lặng lẽ lại hoàn nguyên”. Nguồn chân lặng lẽ trở về nguồn ban đầu tức là nguồn chân ban đầu. Như vậy khi tỉnh giác chúng ta thấy tất cả pháp thế gian là hư ảo không thật, nên tất cả pháp của Phật lập ra để giáo hóa cứu độ chúng sanh cũng là pháp giả lập chớ không thật. Xét thấu đáo tường tận thì không có một vật gì là thật, nhận được như vậy là chúng ta đã thể nhập chân nguyên, nghĩa là trở về cái gốc ban đầu, chưa có trời đất cha mẹ v.v... Nay chúng ta ngộ được đến chỗ cứu kính, đó là trở về chân nguyên tức là trở về cái ban đầu nên nói “chân nguyên lặng lẽ lại hoàn nguyên”.

Tóm lại trong những bài kệ sau, chúng ta thấy ngài Chân Nguyên chỉ rõ rằng người ngộ đạo là trở về pháp thân hay là trở về nguồn chân. Cái đó ai cũng có, ai cũng sẵn mà lâu nay chúng ta mê, chúng ta quên. Vì mê nên sự vật trong vòng đối đãi chúng ta đều thấy là thật, có mình có người có vật... Từ cái đối đãi không thật mà chúng ta mê lầm thấy là thật, nên tranh đua giành giật, gây khổ đau cho nhau. Nếu giác ngộ thấy tất cả đều hư ảo không thật thì từ từ chúng ta trở về được nguồn chân. Trở về nguồn chân là phản bản hoàn nguyên. Phản bản là trở về gốc, hoàn nguyên là trở lại nguồn. Trở về gốc, trở lại nguồn, đó là nguồn chân nên gọi là chân nguyên.

Cuối cùng có câu: Nam mô Pháp thân trạm tịch viên đồng thái hư chân không vô tướng Phật. Dịch: Nam mô Phật pháp thân lặng lẽ tròn đồng thái hư chân không không tướng.

Câu này là qui kính trở về Pháp thân Phật, pháp thân mà tất cả chúng sanh đồng có.

Mục lục
Phần : I - II - III - IV - V - VI - VII - VIII - IX XI - XII

Tác giả bài viết: HT Thích Thanh Từ
Đánh giá bài viết
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Mã an toàn:   Mã chống spamThay mới     

 

Giới thiệu

CÁC NGÀY VÍA PHẬT

Tháng GiêngNgày mồng một, vía Đức Phật Di Lặc Tháng HaiNgày mồng tám, vía Đức Phật Thích Ca xuất giaNgày rằm,vía Đức Phật Thích Ca nhập diệtNgày 19,vía Đức Quán Thế Âm Bồ tátNgày 21,vía Đức Phổ Hiền Bồ tát Tháng BaNgày 19,vía Đức Chuẩn Đề Bồ tát Tháng TưNgày mồng bốn,vía Đức Văn Thù Bồ tátNgày...

Thống kê

  • Đang truy cập: 46
  • Hôm nay: 15607
  • Tháng hiện tại: 220474
  • Tổng lượt truy cập: 29718839

Tin xem nhiều

Xem bản: Desktop | Mobile